Giữ ngôi á quân về lợi nhuận toàn hệ thống ngân hàng, nợ xấu của BIDV cũng tăng mạnh
Với sự gia tăng nhanh chóng của nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay của BIDV đã tăng từ mức 1,16% hồi cuối năm 2022 lên mức 1,59%.
BIDV hạ giá khoản nợ của Tập đoàn Khải Vy gần 300 tỷ đồng
BIDV Đà Lạt chú trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ
Trích lập dự phòng rủi ro giảm mạnh, lợi nhuận tăng ấn tượng
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa qua công bố báo cáo tài chính quý 2/2023.
Theo đó, lợi nhuận hợp nhất trước thuế của nhà băng này đạt 6.943 tỷ đồng, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức lãi cao nhất lịch sử mà BIDV đạt được trong một quý.

Ảnh minh họa. (Nguồn: VNR500)
Đáng chú ý, lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh của BIDV giảm 13,9% so với cùng kỳ năm trước, do nhiều mảng kinh doanh chủ chốt sụt giảm (Trong đó: Hoạt động kinh doanh ngoại hối, hoạt động mua bán chứng khoán đầu tư, thua nhập lãi thuần… đều ghi nhận giảm so với cùng kỳ năm trước).
Nhìn vào báo cáo tài chính, có thể thấy một trong những nguyên nhân giúp cho BIDV tăng trưởng lợi nhuận đến từ việc chi phí dự phòng giảm 35% xuống còn 4.192 tỷ đồng.
Lũy kế 6 tháng đầu năm, lợi nhuận hợp nhất trước thuế của BIDV đạt 13.862 tỷ đồng, tăng 26% so với cùng kỳ năm trước.
Trong kỳ, dù lợi nhuận thuần giảm hơn 5% xuống còn 23.582 tỷ đồng, tuy nhiên nhờ chi phí trích lập dự phòng rủi ro giảm gần 30% so với cùng kỳ năm trước, BIDV vẫn có được mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế như đã đề cập.
Với con số này, BIDV đã vượt Techcombank trở thành ngân hàng có lợi nhuận nửa đầu năm cao thứ hai hệ thống, chỉ sau Vietcombank (20.500 tỷ). Đây cũng là lần đầu tiên kể từ năm 2017, BIDV có lãi bán niên cao hơn Techcombank.
Nợ xấu tăng mạnh
Tại thời điểm 30/6/2023, tổng tài sản BIDV ở mức gần 2,125 triệu tỷ đồng, tăng nhẹ 0,2% so với hồi cuối năm 2022.
Trong đó, dư nợ cho vay khách hàng tăng 7% lên hơn 1,629 triệu tỷ đồng.
Tiền gửi khách hàng tăng 4,9%, đạt xấp xỉ 1,546 triệu tỷ đồng với tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn ở mức 17%. Trước đó, ở thời điểm 31/12/2022, BIDV từng ghi nhận tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn ở mức 18,9%.
Về chất lượng tài sản, nợ xấu của ngân hàng tăng hơn 47% trong 6 tháng đầu năm lên 25.970 tỷ đồng.
Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ khó đòi khi người vay không thể trả nợ khi đến hạn phải thanh toán như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Cụ thể, nếu quá thời gian quá hạn thanh toán trên 90 ngày thì bị coi là nợ xấu.
Theo khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN. Nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 lần lượt là nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
Cụ thể, đối với BIDV trong quý 2/2023, nợ nhóm 3 – nợ dưới tiêu chuẩn tăng 145% so với đầu năm lên gần 7.730 tỷ đồng
Nợ nhóm 4 – nợ nghi ngờ tăng 96% so với thời điểm 31/12/2022, lên 5.278 tỷ đồng
Nợ nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn tăng 10% so với thời điểm hồi đầu năm, lên 12.963 tỷ đồng. Như vậy, tỷ lệ nợ nhóm 5 của BIDV đã chiếm đến 50% tổng số nợ xấu tại thời điểm 30/6/2023.
Với sự gia tăng nhanh chóng của nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ cho vay của BIDV đã tăng từ mức 1,16% hồi cuối năm 2022 lên mức 1,59%.
Trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu của nhà băng này giảm từ 217% xuống còn 153%.
Theo kế hoạch được thông qua tại ĐHĐCĐ thường niên 2023, BIDV đưa ra mục tiêu kinh doanh 2023 với dự kiến lợi nhuận trước thuế tăng 10-15%, phù hợp với diễn biến thị trường, năng lực của BIDV và phê duyệt của Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Tỷ lệ nợ xấu kiểm soát không quá 1,4%.
Dư nợ tín dụng tăng trưởng đảm bảo tuân thủ giới hạn tín dụng do Ngân hàng Nhà nước giao. Huy động vốn phù hợp với tốc độ tăng trưởng tín dụng; bảo đảm an toàn, hiệu quả. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại tỷ lệ nợ xấu đã vượt quá kế hoạch đề ra.

