Chính phủ vừa ban hành Nghị định 56/2026/NĐ-CP quy định về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt nhằm thực hiện Bản thỏa thuận thúc đẩy thương mại song phương giữa Việt Nam và Campuchia giai đoạn 2025-2026. Một trong những nội dung đáng chú ý là chính sách ưu đãi thuế quan đối với mặt hàng lúa gạo.
 |
| Ảnh minh hoạ |
Ưu đãi thuế suất 0% cho 300.000 tấn gạo
Theo nội dung Nghị định, kể từ ngày 12/02/2026 đến hết ngày 31/12/2026, thương nhân Việt Nam khi nhập khẩu mặt hàng lúa gạo từ thị trường Campuchia sẽ được áp dụng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt là 0%.
Tổng hạn ngạch lúa gạo được hưởng mức thuế suất này trong năm 2026 được ấn định là 300.000 tấn (tính theo quy gạo).
Đây là con số tương đương với hạn ngạch đã được áp dụng trong năm 2025, cho thấy sự ổn định trong chính sách thúc đẩy giao thương nông sản giữa hai quốc gia.
Để được hưởng quyền lợi từ chính sách thuế 0%, các doanh nghiệp nhập khẩu cần tuân thủ các quy định.
Théo đó, chỉ áp dụng cho lúa, gạo lứt, gạo Hom Mali và các loại gạo khác nằm trong danh mục quy định kèm theo Nghị định.
Hàng hóa phải có Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu S (C/O form S) do cơ quan có thẩm quyền của Vương quốc Campuchia cấp.
Việc nhập khẩu phải được thực hiện qua 23 cặp cửa khẩu biên giới tiếp giáp giữa Việt Nam và Campuchia theo đúng quy định hiện hành.
Nghị định 56/2026/NĐ-CP cũng quy định rõ phương án xử lý đối với các trường hợp nằm ngoài hạn ngạch 300.000 tấn.
Nếu số lượng nhập khẩu vượt quá mức 300.000 tấn, phần vượt sẽ được áp dụng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt theo các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà cả Việt Nam và Campuchia đều là thành viên (với điều kiện đáp ứng đủ các tiêu chuẩn tại Nghị định biểu thuế tương ứng).
Các mặt hàng lúa gạo do doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp đầu tư, trồng tại Campuchia và nhập khẩu về nước sẽ thực hiện theo các quy định hiện hành riêng biệt của pháp luật.
Trường hợp nhập khẩu gạo từ Campuchia để tái xuất đi thị trường thứ ba sẽ thực hiện theo cơ chế tạm nhập tái xuất của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà hai bên cùng tham gia.
Theo số liệu từ Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), Campuchia hiện là đối tác quan trọng nhất trong việc cung ứng lúa gạo cho Việt Nam.
Trong năm 2024, tổng lượng lúa gạo Việt Nam nhập khẩu đạt khoảng 4,518 triệu tấn, trong đó riêng thị trường Campuchia đã đóng góp tới 2,73 triệu tấn (chiếm hơn 60% tổng lượng nhập khẩu).
Việc ban hành Nghị định 56/2026/NĐ-CP tạo hành lang pháp lý thuận lợi, giúp các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên liệu, đồng thời thắt chặt mối quan hệ kinh tế chiến lược giữa hai nước láng giềng.
23 cặp cửa khẩu nhập khẩu được hưởng thuế suất ưu đãi 0%
Lệ Thanh (Gia Lai) - Ou Va Dav (Ratanakiri); Bu Prăng (Lâm Đồng) - Dak Dam (Mondulkiri); Dắk Peur (Lâm Đồng) - Nam Lear (Mondulkiri); Hoa Lư (Đồng Nai) - Trapeang Sre (Kratie); Hoàng Diệu (Đồng Nai) - Lapakhe (Mondulkiri); Lộc Thịnh (Đồng Nai) - Tonle Cham (Tboung Khmum); Mộc Bài (Tây Ninh) - Bavet (Svay Rieng); Xa Mát (Tây Ninh) - Tra Peang Plong (Tboung Khmum).
Chàng Riệc (Tây Ninh) - Da (Tboung Khmum); Kà Tum (Tây Ninh) - Chan Mul (Tboung Khmum); Phước Tân (Tây Ninh) - Bos Mon (Svay Rieng); Vạc Sa (Tây Ninh) Doun Rodth (Tboung Khmum); Tân Nam (Tây Ninh) - Meun Chey (Prey Veng); Bình Hiệp (Tây Ninh) - Prey Vor (Svay Rieng); Mỹ Quý Tây (Tây Ninh) - Samrong (Svay Rieng).
Dinh Bà (Đồng Tháp) - Banteay Chakrey (Prey Veng); Thường Phước (Đồng Tháp) - Koh Roka (Prey Veng); Vĩnh Xương (An Giang) - Ka Orm Samnor (Kandal); Tịnh Biên (An Giang) - Phnom Den (Takeo); Khánh Bình (An Giang) - Chrey Thom (Kandal); Vĩnh Hội Đông (An Giang) - Kampong Krosang (Takeo); Hà Tiên (An Giang) Prek Chak (Kampot) và Giang Thành (An Giang) - Ton Hon Kampot).