![]() |
| Tượng Thánh Gióng- tức Phù Đổng Thiên Vương. |
Ngựa và những bước chuyển của lịch sử
Trong xã hội nông nghiệp lúa nước, ngựa không thuộc về sinh hoạt thường ngày. Vì thế, mỗi lần ngựa xuất hiện đều gắn với những thời điểm lịch sử bắt đầu dịch chuyển. Truyềnthuyết Thánh Gióng với hình ảnh ngựa sắt phun lửa phản ánh cách người Việt cổ nhìnnhận sức mạnh của tốc độ và khả năng cơ động trên chiến trường. Khi bộ binh chiếm ưu thế, ngựa trở thành yếu tố tạo khác biệt.
Sử liệu cho thấy, từ thời Lý, Trần, triều đình đã duy trì các trại nuôi ngựa phục vụ quân đội. Ngựa chiến không chỉ cần khỏe mà còn phải quen với tiếng trống trận, khói lửa và va chạm.
![]() |
| Trong đời sống, ngựa cũng hiện diện như một người bạn đồng hành. |
Một con ngựa tốt phải giữ được đội hình, không hoảng loạn giữa giao tranh, phối hợp nhịp nhàng với người cưỡi. Trong nhiều trường hợp, khả năng cơ động của quân đội phụ thuộc trực tiếp vào sức bền và sự ổn định của ngựa.
Ở Thăng Long xưa, hình tượng Bạch Mã xuất hiện trong truyền thuyết xây thành. Ngựa trắng không ra trận mà hiện lên để chỉ lối, định hướng. Những dấu chân ngựa vạch ra ranh giới thành quách, từ đó hình thành không gian kinh đô. Trong câu chuyện này, ngựagắn với sự khởi đầu của trật tự và quyền lực.
Điểm chung của các lớp ký ức là ngựa luôn đi cùng nhiệm vụ. Ngựa xuất hiện để hoàn thành một hành trình cụ thể, gắn với trách nhiệm và kết quả.
Ngựa trong đời sống văn hóa và không gian xã hội
Rời khỏi chiến trường, ngựa bước vào đời sống mưu sinh với vai trò thầm lặng hơnnhưng bền bỉ. Ngựa thồ hàng trên những tuyến đường rừng núi.
Ngựa mang theo muối, lúa, vải vóc, nông sản, thư tín... vượt qua những địa hình mà xe cộkhó tiếp cận. Công việc này không đòi hỏi tốc độ, mà đòi hỏi sức chịu đựng và sự kiêntrì.
Ngựa đi đều, đi lâu, chịu nặng, quen với nhịp lao động lặp lại. Trong nhiều vùng trung du và miền núi, vó ngựa từng là nhịp chuyển chính của hàng hóa và thông tin, kết nối vùngcao với đồng bằng trước khi hạ tầng giao thông hiện đại hình thành. Những hành trình này ít được ghi chép, nhưng góp phần duy trì sinh kế và trao đổi kinh tế của nhiều cộng đồng.
![]() |
| Ngựa lội nước giữa không gian tự nhiên, gợi hình ảnh linh vật gắn với những hành trình vượt qua trở ngại. |
Trong tín ngưỡng, người Việt thường không thờ ngựa một cách độc lập. Ngựa xuất hiện với tư cách linh vật gắn với thần, thánh và danh tướng. Ở miền Bắc, hình tượng Bạch Mã gắn với thần bảo hộ kinh thành, biểu trưng cho sự dẫn đường và trấn giữ. Trong hệ thống thờ Thánh Gióng, ngựa sắt là phần không thể tách rời của huyền tích chống ngoại xâm.
Tại Nam Bộ, trong cộng đồng người Hoa, ngựa gắn với Quan Công và ngựa Xích Thố, biểu tượng của trung nghĩa và tận tụy. Trong các miếu Quan Đế, tượng ngựa được đặttrang trọng như một phần cấu thành hình ảnh vị thần được thờ phụng.
Dễ nhận thấy, ngựa không chiếm vị trí trung tâm, nhưng thiếu ngựa, cấu trúc tín ngưỡngtrở nên không trọn vẹn. Điều này phản ánh một quan niệm quen thuộc là có những giá trịkhông cần đứng đầu nhưng luôn giữ vai trò then chốt.
Ngoài mạnh mẽ và bền bỉ, ngựa còn là loài vật có khả năng học hỏi và phối hợp cao. Trong biểu diễn dân gian và xiếc hiện đại, ngựa đòi hỏi sự phối hợp tinh tế giữa ngườihuấn luyện và con vật.
Những động tác đi đều, đứng bằng hai chân sau, di chuyển theo nhịp cho thấy ngựakhông chỉ có sức mà còn nhạy cảm với tín hiệu và cảm xúc. Ở đó, mối quan hệ giữangười và ngựa là quan hệ cộng tác.
Trong đời sống, ngựa cũng hiện diện như một người bạn đồng hành. Ngựa được gọi tên, được chăm sóc, gắn bó lâu dài với một chủ nhất định. Sự trung thành của ngựa hình thành qua quá trình chung sống và làm việc, tạo nên mối quan hệ bền chặt giữa con ngườivà loài vật gắn với những chuyến đi xa.
Dấu ấn của ngựa còn được lưu lại trong địa danh. Những tên gọi như sông Mã, Mã Đà... cho thấy hình ảnh con ngựa từng quen thuộc đến mức đi vào cách người Việt định danhkhông gian sống.
Địa danh ngoài để gọi còn là để ghi nhớ. Việc ngựa hiện diện trong tên đất, tên sông phảnánh vai trò thực tế của nó trong quá trình di chuyển, khai phá và định cư.
Ngày nay, ngựa không còn xuất hiện nhiều trong đời sống thường nhật. Đường nhựa, tàuhỏa, ô tô đã thay thế vó ngựa. Tuy vậy, tinh thần mà ngựa đại diện vẫn tiếp tục tồn tạitrong những chuyến tàu xuân, những dòng người trở lại thành phố sau Tết, những côngtrình hạ tầng nối dài các vùng đất. Đó vẫn là tinh thần lên đường, của sự chuẩn bị và bềnbỉ trước hành trình dài. Trong đời sống dân gian, người Việt chúc nhau “mã đáo thànhcông” mỗi khi ai đó đi xa hay bắt đầu việc lớn. Câu chúc này không chỉ hướng tới kếtquả, mà gợi hình ảnh con ngựa đã hoàn thành trọn vẹn hành trình đi đến nơi và trở về với thành quả.
Ngựa, vì thế, bên cạnh là biểu tượng của sức mạnh hay tốc độ, còn là biểu tượng của sựđáng tin cậy và trách nhiệm, những phẩm chất đã theo vó ngựa đi suốt chiều dài văn hóaViệt.
Huỳnh Phúc