Quyết định tạm đình chỉ của TAND khu vực 2 - Đồng Nai lộ nhiều điểm cần làm rõ
Bỏ ra 2,8 tỷ đồng để nhận chuyển nhượng một thửa đất tại huyện Long Thành cũ, tỉnh Đồng Nai, bà Lê Thị Thanh Tuyền cho biết đã hoàn tất thủ tục sang tên từ năm 2022 nhưng đến nay vẫn chưa thể tiếp cận, sử dụng tài sản trên thực tế.
Vụ việc không chỉ kéo dài qua nhiều lần hòa giải, nhiều giao dịch chuyển nhượng và nhiều quyết định tố tụng, mà mới đây còn tiếp tục gây chú ý khi quyết định tạm đình chỉ của Tòa án lộ ra những chi tiết bất thường về năm ban hành và căn cứ pháp lý được viện dẫn.
Bà Lê Thị Thanh Tuyền, sinh năm 1986, trú tại khu phố Phước Hải, xã Long Thành (tỉnh Đồng Nai), cho biết năm 2022, bà nhận chuyển nhượng thửa đất số 163, tờ bản đồ số 31 tại xã Tam An, huyện Long Thành cũ, diện tích 929,5m².
Thửa đất này gồm 100m² đất ở và 829,5m² đất trồng cây lâu năm, với giá chuyển nhượng 2,8 tỷ đồng.
Theo trình bày của bà Tuyền, hồ sơ đã được cơ quan có thẩm quyền chỉnh lý, sang tên cho bà vào ngày 3/11/2022.
Tuy nhiên, sau khi hoàn tất thủ tục giấy tờ, việc tiếp nhận thửa đất trên thực tế lại không diễn ra như dự kiến.
Bà Tuyền cho biết ngày 16/11/2022, khi bà đề nghị cơ quan chuyên môn tiến hành đo đạc, xác định ranh giới thì phát sinh phản đối từ bà Nguyễn Thị Quý.
Theo nội dung đơn, bà Quý cho rằng phần đất này vẫn thuộc quyền sử dụng của mình và không đồng ý giao đất.

Mâu thuẫn từ đó bắt đầu nảy sinh và nhanh chóng kéo dài thành tranh chấp. Theo phản ánh của bà Tuyền, vụ việc đã được chính quyền địa phương tổ chức hòa giải trong các tháng 11 và 12/2022 nhưng không đạt kết quả.
Trong khi đó, người mua đất cho rằng mình đã hoàn tất nghĩa vụ tài chính, đã được sang tên hợp pháp nhưng vẫn chưa thể quản lý, sử dụng tài sản trên thực tế.
Không dừng ở tranh chấp đơn lẻ giữa hai cá nhân, hồ sơ mà phóng viên tiếp cận cho thấy thửa đất này đã trải qua nhiều lần chuyển nhượng trong nhiều năm.
Thông báo thụ lý vụ án ngày 2/12/2022 của TAND huyện Long Thành thể hiện bà Lê Thị Thanh Tuyền là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự sơ thẩm số 367/2022/TLST-DS về việc “yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” theo đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Quý.
Theo tài liệu vụ án, người khởi kiện đề nghị Tòa án xem xét tuyên vô hiệu hàng loạt hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được lập từ năm 2013 đến năm 2022.
Chuỗi giao dịch này liên quan đến nhiều cá nhân, kéo dài gần một thập niên và khiến vụ việc ngày càng phức tạp khi mỗi giao dịch sau đều gắn với hiệu lực của giao dịch trước đó.
Cụ thể, hợp đồng đầu tiên bị đề nghị tuyên vô hiệu là giao dịch giữa bà Nguyễn Thị Quý và ông Nguyễn Đăng Hoan, ký ngày 22/4/2013 tại Văn phòng công chứng Khải Nguyên.
Tiếp đó là hợp đồng ngày 2/11/2013 giữa vợ chồng ông Hoan, bà Nguyễn Thị Hồng Trâm với ông Phạm Văn Bông; hợp đồng ngày 2/6/2015 giữa vợ chồng ông Hoan, bà Trâm với bà Nguyễn Thị Hồng; hợp đồng ngày 30/9/2015 giữa bà Nguyễn Thị Hồng với ông Võ Ngọc Quang; và gần nhất là hợp đồng ngày 4/7/2022 giữa vợ chồng ông Võ Ngọc Quang, bà Võ Kim Quần với bà Lê Thị Thanh Tuyền.

Tuy nhiên, sau gần hai năm được thụ lý, vụ án “yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu” lại không đi đến xét xử nội dung.
Quyết định số 199/2024/QĐST-DS ngày 16/10/2024 của TAND huyện Long Thành cho thấy Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 367/2022/TLST-DS.
Lý do được nêu là nguyên đơn bà Nguyễn Thị Quý, dù đã được thông báo đến lần thứ hai, nhưng không nộp tiền tạm ứng chi phí thẩm định giá tài sản tranh chấp theo yêu cầu của Tòa án.
Sau khi vụ án này bị đình chỉ, bà Lê Thị Thanh Tuyền tiếp tục nộp đơn khởi kiện vụ án mới.
Trên cơ sở đó, TAND khu vực 2 - Đồng Nai đã thụ lý vụ án số 659/2024/TLST-DS ngày 17/12/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn là bà Lê Thị Thanh Tuyền và bị đơn là bà Nguyễn Thị Quý.
Vụ án còn có sự tham gia của nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như ông Nguyễn Đăng Hoan, bà Nguyễn Thị Hồng Trâm, bà Nguyễn Thị Hồng, ông Võ Ngọc Quang, bà Võ Kim Quần và một số cá nhân khác.
Như vậy, từ một giao dịch dân sự trị giá 2,8 tỷ đồng, vụ việc hiện đã kéo dài qua nhiều giai đoạn tố tụng, từ vụ kiện yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng công chứng đến vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất.
Điều mà người trong cuộc chờ đợi không còn chỉ là một thủ tục tố tụng mới, mà là một phán quyết rõ ràng để xác định dứt điểm quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất đang tranh chấp.
Diễn biến mới nhất cho thấy vụ án tiếp tục chưa thể được giải quyết ngay. Theo quyết định mà phóng viên ghi nhận, TAND khu vực 2 - Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 59/2026/QĐST-DS về việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tranh chấp quyền sử dụng đất nêu trên, với lý do cần chờ kết quả cung cấp chứng cứ của Công an xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp.
Đây là chi tiết đang thu hút sự chú ý bởi văn bản, dù đủ khung hình thức của một quyết định tạm đình chỉ, lại bộc lộ một số điểm bất thường đáng lưu ý.
Về hình thức, quyết định có đủ các thành phần cơ bản như tên Tòa án, quốc hiệu - tiêu ngữ, số quyết định, ngày tháng, tên văn bản, căn cứ pháp lý, phần nhận định, phần quyết định, nơi nhận, chữ ký thẩm phán và dấu của Tòa.
Nhìn bề ngoài, đây là một văn bản tố tụng được lập theo cấu trúc thông thường của quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Tuy nhiên, ngay trong kỹ thuật trình bày, văn bản lại để lộ một lỗi không dễ xem nhẹ.
Phần đầu quyết định ghi “Đồng Nai, ngày 16 tháng 03 năm 2025”, nhưng ở phần nội dung lại ghi “Kể từ ngày 16 tháng 03 năm 2026”.
Một quyết định tố tụng xuất hiện mâu thuẫn về năm ban hành như vậy rõ ràng là thiếu chặt chẽ, bởi thời điểm ban hành liên quan trực tiếp đến hiệu lực văn bản, thời điểm phát sinh việc tạm đình chỉ và thời hạn 7 ngày để đương sự thực hiện quyền kháng cáo.
Không chỉ có sự lệch năm, theo các chuyên gia lý do tạm đình chỉ và căn cứ điều luật được viện dẫn trong quyết định cũng đang đặt ra băn khoăn.
Quyết định nêu lý do là “cần đợi kết quả cung cấp chứng cứ của Công an xã Bình Phú, tỉnh Đồng Tháp”, nhưng lại dẫn điểm d khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong khi đó, nếu chỉ bám vào chính nội dung được nêu trong văn bản, việc “đợi cung cấp chứng cứ” dường như gần với trường hợp phải đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án hơn là trường hợp phải chờ kết quả giải quyết một vụ việc khác có liên quan.
Đáng chú ý hơn, phần “xét thấy” của quyết định được trình bày khá ngắn. Văn bản chưa làm rõ chứng cứ cần chờ là chứng cứ gì, có ý nghĩa quyết định như thế nào đối với việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, và vì sao chưa có tài liệu đó thì vụ án không thể tiếp tục được giải quyết.
Trong thực tiễn tố tụng dân sự, căn cứ tạm đình chỉ luôn là vấn đề nhạy cảm vì nó tác động trực tiếp đến tiến độ giải quyết vụ án cũng như quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Dưới góc độ pháp lý, quyết định tạm đình chỉ không đồng nghĩa với việc vụ án chấm dứt hẳn.
Vụ án vẫn còn trong sổ thụ lý và sẽ được tiếp tục giải quyết khi lý do tạm đình chỉ không còn.
Tuy nhiên, với một vụ việc đã kéo dài từ năm 2022 đến nay, trong khi người mua đất cho rằng mình đã sang tên nhưng vẫn chưa được nhận tài sản, thì mọi sai sót về kỹ thuật soạn thảo hay sự chưa rõ ràng trong căn cứ áp dụng pháp luật đều dễ làm gia tăng bức xúc và khiến niềm tin của đương sự bị ảnh hưởng.
Theo bà Tuyền, trong lúc vụ án chưa được giải quyết dứt điểm thì hiện bà Nguyễn Thị Quý vẫn ở trên đất.
Bà Tuyền cho rằng phía bà Quý đã sửa sang nhà cửa, chặt bán cây cối và tiếp tục sử dụng khu đất, trong khi bà cùng các con nhỏ vẫn phải đi ở trọ.
Từ những diễn biến trên, có thể thấy vụ việc không chỉ phức tạp ở chuỗi giao dịch dân sự kéo dài gần một thập niên, mà còn đáng chú ý ở những quyết định tố tụng phát sinh sau đó.
Trong bối cảnh ấy, điều mà các bên và dư luận chờ đợi là một tiến trình giải quyết rõ ràng, minh bạch, đúng pháp luật, để tranh chấp sớm được tháo gỡ và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan được xác định bằng một phán quyết có sức thuyết phục.
Báo Pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin khi vụ việc có diễn biến mới.











