Hình phạt tù và điều kiện để được hoãn chấp hành án tù
Theo quy định của pháp luật nước ta hiện nay, trong một vài trường hợp, phạm nhân có thể được hoãn chấp hành án phạt tù…
Dự thảo chi phí cưỡng chế thi hành án đối với pháp nhân thương mại
Chỉ đạo mới của Tổng cục Thi hành án dân sự trong thời gian nghỉ Tết
Hoãn hình phạt tù
Hình phạt tù được hiểu là một biện pháp cưỡng chế của nhà nước dùng để cách ly một người đã thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội.

Ảnh minh họa.
Theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2015: “Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật này, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó; không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm."
Tại Điều 32 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về các hình phạt cho người phạm tội như sau:
Hình phạt chính: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình.
Hình phạt bổ sung: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền (khi không áp dụng là hình phạt chính); trục xuất (khi không áp dụng là hình phạt chính).
Bên cạnh đó, việc hoãn chấp hành hình phạt tù được hiểu đó là một người bị áp dụng hình phạt chính là tù có thời hạn theo bản án của tòa án nhưng thuộc trường hợp cấp thiết, cần phải hoãn áp dụng hình phạt tù để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người bị áp dụng hình phạt tù.
Những trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù
Theo quy định tại Điều 67 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì các trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù bao gồm:
Thứ nhất, người phải chấp hành hình phạt tù bị bệnh nặng.
Tại Điều 4 của Thông tư liên tịch 03/2013/TTLT-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BYT Thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành quy định về tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù đối với phạm nhân có quy định như sau:
"Điều 4. Điều kiện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù
1. Phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có thể được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù khi thuộc một trong các trường hợp dưới đây:
a) Phạm nhân bị bệnh nặng đến mức không thể tiếp tục chấp hành án phạt tù và nếu phải chấp hành án phạt tù sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ, do đó, cần thiết phải cho họ tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để có điều kiện chữa bệnh, trừ người không có thân nhân hoặc không có nơi cư trú rõ ràng.
Người bị bệnh nặng quy định tại khoản này là người mắc một trong các bệnh hiểm nghèo như: Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng;
b) Nữ phạm nhân có thai hoặc đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi trong trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, nếu họ bị xử phạt tù lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng;
c) Phạm nhân là người lao động có thu nhập duy nhất trong gia đình, nếu họ tiếp tục chấp hành án phạt tù thì gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt (không có nguồn thu nhập nào khác, không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng những người thân thích là người già, trẻ em hoặc những người khác không có khả năng lao động trong gia đình họ), trừ trường hợp người đó bị kết án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng;
d) Phạm nhân bị kết án phạt tù về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ, cần thiết sự có mặt của họ để thực hiện công vụ nhất định."
Như vậy, căn cứ theo điều luật trên thì để được hoãn chấp hành án phạt tù thì phạm nhân phải thuộc một trong các trường hợp sau:
- Phạm nhân mắc phải các bệnh hiểm nghèo
- Phạm nhân là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.
- Phạm nhân là người lao động duy nhất trong gia đình,
- Phạm nhân bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, do nhu cầu công vụ được hoãn đến 01 năm.
Trong thời gian được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Điều kiện để được hoãn chấp hành hình phạt tù
Tuy nhiên, dù thuộc các trường hợp nào, để có thể được hoãn chấp hành hình phạt tù thì phạm nhân phải đảm bảo được các yêu cầu nhất định như:
Nếu bị bệnh nặng thì phải là các bệnh “Ung thư giai đoạn cuối, liệt, lao nặng kháng thuốc, xơ gan cổ chướng, suy tim độ III trở lên, suy thận độ IV trở lên, nhiễm HIV đã chuyển giai đoạn AIDS đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc một trong các bệnh khác được Hội đồng giám định y khoa, bệnh viện cấp tỉnh hoặc cấp quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là bệnh hiểm nghèo, nguy hiểm đến tính mạng.”
Nếu phạm nhân là phụ nữ đang có thai hoặc có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi thì bị xử phạt tù lần đầu và có nơi cư trú rõ ràng.
Nếu phạm nhân là lao động duy nhất trong nhà thì phải chứng minh được nếu phải chấp hành hình phạt tù sẽ làm cho gia đình sẽ gặp khó khăn đặc biệt: không có nguồn thu nhập nào khác, không có ai chăm sóc, nuôi dưỡng những người thân thích là người già, trẻ em hoặc những người khác không có khả năng lao động trong gia đình.
Cuối cùng, nếu thuộc trường hợp phạm nhân vì do nhu cầu công vụ thì phải là tội ít nghiêm trọng.
Trong trường hợp này, quá trình được hoãn chấp hành hình phạt tù, nếu người được hoãn chấp hành hình phạt lại thực hiện hành vi phạm tội mới, thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
“Điều 56. Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án
1. Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung.
2. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.
3. Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.”











