Di chúc ngoài việc được lập bằng văn bản thì còn có thể có di chúc miệng, tuy nhiên phải đáp ứng một số điều kiện nhất định thì mới đạt giá trị pháp lý.
Bạn đọc Nguyễn Khoa Lâm (Cà Mau) hỏi: Em tôi là người khuyết tật nên không thể viết di chúc bằng tay được. Xin hỏi có thể tạo di chúc miệng không và thế nào là di chúc miệng hợp pháp?
Di chúc miệng là gì?
Di chúc là phương tiện pháp lý quan trọng để cá nhân thể hiện ý chí phân chia tài sản của mình sau khi qua đời.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp cấp bách, người để lại di sản không thể lập di chúc bằng văn bản mà chỉ có thể bày tỏ ý nguyện thông qua lời nói – gọi là di chúc miệng. Dù được pháp luật thừa nhận song di chúc miệng tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý mà người dân cần lưu ý.
 |
| Hình minh hoạ. |
Di chúc miệng là di chúc được lập không phải bằng hình thức văn bản mà do người để lại di chúc “truyền lời” lại cho người làm chứng khi tính mạng của người đó đang bị cái chết đe doạ (ví dụ như đang bị thương nặng do tai nạn hoặc bị bệnh nặng sắp chết…) và không thể lập di chúc bằng văn bản.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 629 Bộ luật dân sự 2015, di chúc là di nguyện, ý chí của người có tài sản nhằm để lại tài sản của mình cho người khác sau khi người này qua đời. Do đó, nội dung của di chúc miệng cũng không khác một bản di chúc thông thường.
Điểm khác biệt giữa di chúc thông thường và di chúc miệng là di chúc miệng là loại di chúc không được lập bằng văn bản mà là lời truyền lại của người để lại di sản cho những người làm chứng.
Ngay sau khi di chúc miệng được người để lại di chúc thể hiện ý chí cuối cùng thì người làm chứng phải ghi chép lại di nguyện đó và người làm chứng phải cùng ký tên/điểm chỉ vào văn bản vừa ghi lại đó.
Khi nào thì di chúc miệng được xem là hợp pháp?
Do di chúc miệng không phải là di chúc được lập bằng văn bản nên để di chúc miệng được xem là hợp pháp, di chúc miệng cần đáp ứng điều kiện chung về di chúc hợp pháp và điều kiện riêng về tính hợp pháp của di chúc miệng.
Cụ thể, điều kiện di chúc thông thường hợp pháp nêu tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Tình trạng, trạng thái tinh thần của người lập di chúc: Hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc;
Ý muốn chủ quan, ý chí của người lập di chúc: Người lập di chúc không bị lừa dối, đe doạ hay cưỡng ép;
Nội dung của di chúc: Nội dung của di chúc phải không vi phạm điều cấm của luật, bao gồm các nội dung chủ yếu: Ngày, tháng, năm lập; họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc và nguwòi hưởng di sản; di sản cùng nơi có di sản…
Hình thức của di chúc: Hình thức của di chúc không trái luật. Di chúc không được viết tắt hoặc dùng ký hiệu viết di chúc; nếu nhiều trang thì phải đánh số thứ tự từng trang và có chữ ký/điểm chỉ của người lập di chúc; nếu tẩy xoá thì chỗ tẩy xoá cần phải có chữ ký của người lập di chúc; người làm chứng ký tên bên cạnh chỗ tẩy xoá, sửa chữa đó.
Ngoài ra, một số lưu ý về hình thức áp dụng cho từng đối tượng cụ thể:
Di chúc của người từ đủ 15 đến chưa đủ 18 tuổi: Lập thành văn bản, được cha, mẹ/người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Di chúc của người bị hạn chế về thể chất/không biết chữ: Người làm chứng lập thành văn bản, có công chứng/chứng thực.
Điều kiện để di chúc miệng được coi là hợp pháp nêu tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015: Có ít nhất 02 người làm chứng; Ngay sau khi người để lại di chúc thể hiện di chúc miệng thì người làm chứng phải ghi chép lại, cùng ký tên/điểm chỉ vào văn bản ghi lại di chúc miệng này; Trong 05 ngày làm việc, chữ ký/điểm chỉ của người làm chứng trên bản ghi chép này phải được công chứng hoặc chứng thực.
| Di chúc miệng hợp pháp vẫn có thể bị hủy bỏ? Nếu đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, di chúc miệng được coi là hợp pháp và những người có tên trong di chúc được quyền phân chia tài sản thừa kế theo di chúc. Tuy nhiên, có trường hợp di chúc miệng dù hợp pháp vẫn có thể bị hủy bỏ. Theo khoản 2 Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015, sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ. |
Những rủi ro pháp lý thường gặp khi lập di chúc miệng
Mặc dù là giải pháp tình thế, di chúc miệng có thể dẫn đến nhiều tranh chấp, khó khăn pháp lý trong quá trình phân chia di sản. Dưới đây là một số rủi ro phổ biến:
Không đáp ứng điều kiện lập di chúc miệng
Nhiều trường hợp người lập di chúc không thực sự “bị cái chết đe dọa” hoặc vẫn có khả năng lập di chúc văn bản (ví dụ: viết tay, đánh máy hoặc nhờ người khác viết) nhưng vẫn để lại di chúc miệng. Khi đó, di chúc sẽ bị coi là không hợp pháp và có thể bị tuyên vô hiệu do di chúc không hợp pháp theo Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015.
Không đủ người làm chứng hợp lệ
Pháp luật yêu cầu phải có ít nhất hai người làm chứng (Theo khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015), tuy nhiên thực tế nhiều trường hợp tại thời điểm người lập di chúc miệng sắp mắt lại chỉ có một người hoặc người làm chứng không đủ điều kiện (ví dụ: người thừa kế theo di chúc, người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi dân sự Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015). Điều này khiến cho di chúc được lập không có giá trị pháp lý.
Không lập văn bản xác nhận trong thời hạn 5 ngày
Tại khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định:
“5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng
Tuy nhiên trong nhiều trường hợp di chúc miệng sau khi được lập nhưng không được ghi chép và xác nhận theo đúng trình tự pháp luật trong vòng 5 ngày làm việc.
Việc không tuân thủ đúng thủ tục sẽ khiến di chúc không được pháp luật công nhận.
Dễ bị tranh chấp do khó chứng minh ý chí thực sự của người để lại di sản
Khi xác lập di chúc miệng không có bản ghi âm, ghi hình hay văn bản nào thể hiện rõ ràng nội dung di chúc miệng, mọi việc chỉ phụ thuộc vào lời khai của người làm chứng.
Trong nhiều vụ việc, người thừa kế không đồng ý với nội dung di chúc hoặc nghi ngờ người làm chứng gian dối, dẫn đến tranh chấp kéo dài, thậm chí kiện tụng ra tòa dẫn đến sai lệch về ý chí của người lập di chúc và gây ra mâu thuẫn giữa các thành viên được thừa hưởng theo di chúc.
Do vậy, di chúc miệng là giải pháp bất đắc dĩ trong những tình huống nguy cấp, tuy nhiên nó tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý khó lường. Do đó, mỗi cá nhân nên chủ động lập di chúc bằng văn bản hợp pháp khi còn minh mẫn, sáng suốt để tránh những tranh chấp không đáng có giữa những người thân trong gia đình sau này.
Để hạn chế các rủi ro pháp lý từ việc lập di chúc miệng, người dân nên lưu ý ưu tiên lập di chúc bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Đây là hình thức rõ ràng, có giá trị pháp lý cao và dễ chứng minh khi có tranh chấp.