Đề nghị chuyển hồ sơ sang công an vụ án tại Chân Đèo
Vụ án “Tranh chấp yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vô hiệu” được TAND thành phố Hải Phòng thụ lý số 171/2024/TLST-DS ngày 13/12/2024, xét xử ngày 31/3/2026 và đã có Bản án sơ thẩm số 23/2026/DS-ST.
Tại mục 2 của Quyết định đã nêu: Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Kim Trinh về việc bà Trần Thị Lý phải thực hiện nghĩa vụ trả cho bà Hà Thị Kim Phương số tiền là 7 tỷ đồng theo Biên bản thỏa thuận trả nợ thay được ký vào ngày 19/5/2020 giữa bà Trần Thị Lý và bà Hà Thị Kim Phương.
Tuy nhiên, ngay sau đó bà Trần Thị Lý đã có đơn trình bày ý kiến để gửi tới một số cơ quan chức năng và giữ nguyên quan điểm: “Ngày 31/3/2026 TAND thành phố Hải Phòng đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án và đã có Bản án sơ thẩm số 23/2026/DS-ST ngày 31/3/2026.
Tôi đã có đơn kháng cáo bản án, vì tôi cho rằng phán quyết sơ thẩm liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của tôi là chưa khách quan, vi phạm nghiêm trọng cả luật hình thức và luật nội dung.
Tài liệu chứng cứ của vụ án đã làm rõ: Quan hệ vay tiền là giữa ông Trinh với bà Phương còn tôi – Trần Thị Lý chỉ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với tài sản (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) được đưa ra là tài sản bảo đảm cho khoản vay.
Theo Điều 335 Bộ luật Dân sự 2015, bảo lãnh là việc người thứ ba (bà Lý) cam kết với bên có quyền (bà Phương) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh (ông Trinh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
Tại phiên Tòa, ông Nguyễn Kim Trinh đã trình bày thực tế đã thực hiện trả nợ cho bà Phương số tiền 4 tỷ đồng, số tiền nợ còn lại là 3 tỷ đồng, yêu cầu bà Lý nhận nợ và trả nợ theo thỏa thuận nhận nợ.

Lời khai của ông Trinh chứng minh ông Trinh là chủ thể trực tiếp của nghĩa vụ trả nợ. Theo Điều 335 và Điều 336 BLDS 2015, nghĩa vụ bảo lãnh chỉ phát sinh khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ.
Tòa án chưa xác minh, kê biên tài sản của ông Trinh tại Việt Nam và Mỹ để chứng minh ông Trinh mất khả năng thanh toán mà đã vội vàng buộc bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ chưa phát sinh là trái trình tự pháp luật” – Đơn thư bà Trần Thị Lý cho biết.
Trao đổi thêm về vấn đề này, bà Trần Thị Lý bày tỏ quan điểm: Trong đơn khởi kiện độc lập cũng như các lời khai ông Nguyễn Kim Trinh trình bày thì toàn bộ số tiền mua đất là tiền từ nguồn vợ chồng ông Trinh – bà Thủy vay của bà Phương để chuyển cho tôi đi thực hiện giao dịch (chuyển nhượng quyền sử dụng đất) với vợ chồng ông Vân và bà Vân.
Và thực tế trong tất cả các tài liệu, chứng cứ được sử dụng trong vụ án và trực tiếp tại phiên xét xử đều làm rõ: Chiều ngày 7/11/2019, bà Phương cho vay 4 tỷ đồng và bà Phương đã chuyển trực tiếp cho bà Thủy vợ ông Trinh; Tối muộn ngày 7/11/2019, bà Phương chuyển tiếp 4 tỷ đồng cho bà Thủy vợ ông Trinh (qua chuyển khoản).
Và trong hồ sơ tài liệu mà tôi đã cung cấp cho Tòa có tài liệu xác nhận tôi đã đặt cọc trước cho ông bà Vân số tiền 2 tỷ đồng vào ngày 21/10/2019 cùng USB ghi nhận video quay lại toàn bộ sự việc sáng ngày 7/11/2019 tôi - Trần Thị Lý cùng nhiều người khác giao số tiền 5 tỷ đồng cho vợ chồng ông bà Vân để hoàn thành việc giao dịch chuyển nhượng mảnh đất.
Vợ chồng ông bà Vân có mời cán bộ ngân hàng đến, mang máy đếm tiền để kiểm tiền và chuyển tiền về gửi ngân hàng.
Tình tiết này là chứng cứ vững chắc để bác quan điểm của ông Nguyễn Kim Trinh về việc cho rằng: Tiền mua mảnh đất được hình thành từ tiền ông Trinh vay của bà Phương.

Mặt khác, không có bất cứ tài liệu chứng cứ nào chứng minh việc vợ chồng ông Trinh – bà Thủy chuyển tiền cho tôi.
Bên cạnh đó, tại các phiên hòa giải, ý kiến của các bên đều đề cập số tiền cần hoàn trả để giải quyết xong tranh chấp là 3 tỷ đồng.
Tại phiên Tòa, ông Nguyễn Kim Trinh cũng đã trình bày thực tế đã thực hiện trả nợ cho bà Hà Thị Kim Phương số tiền 4 tỷ đồng, số tiền nợ còn lại là 3 tỷ đồng.
Tuy nhiên, không hiểu sao tình tiết này không được ghi nhận và cũng không xác minh sự thật khách quan về số tiền, mà vẫn xác định số tiền tranh chấp là 7 tỷ đồng.
Điều này gây ảnh hưởng rất lớn đến bản chất vụ án đồng thời trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự khi thực hiện việc giải quyết tranh chấp cũng như nộp tiền án phí không đúng với giá trị tranh chấp được xác định.
Hơn nữa trong đơn thư trình bày ý kiến của mình đối với Bản án sơ thẩm số 23/2026/DS-ST do Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng xét xử 31/3/2026 gửi các cơ quan chức năng, tại phần 4 mục II bà Trần Thị Lý đã đưa ra yêu cầu Đề nghị HĐXX phúc thẩm ra Quyết định tạm đình chỉ vụ án và chuyển hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra để làm rõ các tội danh bao gồm: Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản.
Tìm hiểu thêm được biết, xuyên suốt vụ việc này, không chỉ có kiến nghị mà đã nhiều lần bà Trần Thị Lý gửi đơn thư cho các cơ quan công an.
Một câu hỏi được đặt ra ở đây là: Nếu bà Lý lợi dụng sự quen biết với ông Trinh để có dấu hiệu trục lợi hay lừa đảo thì liệu bà Lý có dám làm đơn thư hay có đề xuất chuyển vụ việc sang cho cơ quan công an thụ lý như trên hay không?











