Đương sự bức xúc sau quyết định của TAND tỉnh Tây Ninh
Theo Bộ luật TTDS 2015, Tòa án chỉ có thể mở phiên họp giải quyết việc dân sự, nhưng đối với các vụ việc tranh chấp thì phải mở phiên tòa để xét xử và ra bản án mới đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Ông Nguyễn Xuân Mẫn (SN 1965, ngụ phường Bàn Cờ, TP HCM) đã có đơn gửi các cơ quan chức năng về việc xem xét lại Quyết định "giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ tài sản" của TAND tỉnh Tây Ninh mà ông là người có nghĩa vụ liên quan.
Ông Nguyễn Xuân Mẫn trình bày: Ông và bà Ng. kết hôn năm 2000, ly hôn 2018. Quá trình chung sống, ông và bà Ng. tạo lập được 2 phần đất thuộc thửa 643 (diện tích 16.644,6m2) và thửa 506 (với 4.500m2) tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương (cũ).
Trong đó, thửa 506 ông đã ký tên để bà Ng. chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho Công ty TNHH Việt Ấn (do vợ ông Mẫn làm Giám đốc) nên không còn liên quan. Còn thửa 643, ông để vợ đứng tên nhưng vẫn bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ cho ông, do đây là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Ngày 06/02/2013, vợ chồng ông ký Hợp đồng số 13.112201 với một ngân hàng bảo lãnh vay tối đa 10,2 tỷ đồng cho Công ty NIVL, thế chấp QSDĐ thửa 643. Cùng ngày, bà Ng- đại diện Công ty Việt Ấn ký hợp đồng số 13.112202 với ngân hàng bảo lãnh vay 3,7 tỷ đồng cho Công ty NIVL, thế chấp QSDĐ thửa 506.
Do làm ăn thua lỗ, Công ty NIVL đã nộp đơn xin phá sản năm 2018 và ngân hàng kiện Công ty NIVL ra toà yêu cầu thanh toán nợ.
Từ tháng 8 đến đầu tháng 9/2018, ông Mẫn nhiều lần làm việc với ngân hàng đề nghị tính toàn bộ chi phí đối với khoản vay tối đa 10,2 tỷ được ghi rõ trong hợp đồng, kèm lãi suất để ông thanh toán, giữ lại thửa đất.
Nhưng phía ngân hàng muốn thanh lý, bán đấu giá thửa đất số 643 để thu hồi nợ nên ông khiếu nại.
Ngày 26/9/2018, Cục Thanh tra, giám sát ngân hàng TPHCM có văn bản chuyển đơn của ông đến ngân hàng giải quyết theo thẩm quyền.
Do có nhiều ý kiến khác nhau nên ngân hàng không tiến hành thu giữ tài sản như đã thông báo và chờ phán quyết của toà án.
Ngày 1/7/2025 Tòa án tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 01/QĐNVTS-PS nhằm xác định nghĩa vụ tài sản liên quan đến Công ty CP NIVL, Ngân hàng cùng các cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong khi thủ tục phá sản chưa hoàn tất.
Theo ông Mẫn cho biết quyết định của toà án khi trích dẫn nội dung hợp đồng thế chấp có “dấu hiệu cắt xén, thiếu minh bạch” gây bất lợi cho ông khi chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp .
Cụ thể, ông Mẫn phản ánh hợp đồng thế chấp số 13.112201/HĐTC ngày 06/02/2013 và Biên bản định giá tài sản thế chấp đã bị trích dẫn không đầy đủ trong quyết định của toà.
Theo hợp đồng, giá trị khoản vay tối đa được bảo đảm là 10,2 tỉ đồng, được thể hiện rõ ràng, trong khi giá trị tài sản thế chấp 14,4 tỉ đồng chỉ là căn cứ xác định hạn mức tín dụng, không đồng nghĩa với nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ theo giá trị tài sản.

Tuy nhiên, Quyết định số 01/QĐNVTS-PS lại xác định nghĩa vụ nợ theo toàn bộ giá trị tài sản thế chấp, gây bất lợi cho bên bảo đảm.
“Hợp đồng thế chấp GỐC, với điều 2.02(a) Giá trị tài sản thế chấp được ghi rõ là 14,4 tỷ đồng và điều 2.02(c) giá trị này chỉ có ý nghĩa tham khảo để cấp các khoản tín dụng cho vay, không bắt buộc phải được áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp.
Điều 2.03(a) giá trị khoản tín dụng được ấn định rõ ràng là 10,2 tỷ đồng đây là những chốt chặn được in rất rõ ràng”, ông Mẫn bày tỏ.
Trong khi đó Quyết định số 01 của Tòa án lại ghi: “tại điểm c khoản 2.02 của các hợp đồng thế chấp quy định “hai bên thỏa thuận giá/ định giá lại giá trị tài sản chỉ có ý nghĩa liên quan tới việc xác định giá trị các khoản tín dụng mà bên A cấp cho bên vay” (đoạn này quyết định của toà cho tô đậm).
Tại điểm a khoản 2.03 của hợp đồng thế chấp quy định “ các bên thống nhất rằng giá trị tín dụng của các khoản tối đa (cho vay, bảo lãnh, L/c, chiết khấu và hình thức cấp tín dụng khác) mà bên A cấp cho bên vay được xác định theo giá trị của tài sản thế chấp” (đoạn này quyết định của toà cho tô đậm).
Tại Hợp đồng thế chấp số 13.112201/HĐTC đã công chứng ghi rất rõ ràng đầy đủ: “tại điểm c khoản 2.02 của các hợp đồng thế chấp quy định “hai bên thỏa thuận giá/ định giá lại giá trị tài sản chỉ có ý nghĩa liên quan tới việc xác định giá trị các khoản tín dụng mà bên A cấp cho bên vay. Giá trị tài sản thế chấp không bắt buộc áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp”.
Tại điểm a khoản 2.03 của hợp đồng thế chấp quy định “ các bên thống nhất rằng giá trị tín dụng của các khoản tối đa (cho vay, bảo lãnh, L/c, chiết khấu và hình thức cấp tín dụng khác) mà bên A cấp cho bên vay được xác định theo giá trị của tài sản thế chấp là 10.200.000.000 đồng ”.
Hai đoạn trong Hợp đồng thế chấp rất quan trọng là: “Giá trị tài sản thế chấp không bắt buộc áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp” và “10.200.000.000 đồng”, không được đưa vào trong Quyết định số 01 nói trên. Theo ông Mẫn đây là dấu hiệu “cố tình cắt xén” gây thiệt hại cho ông.
Ông Mẫn bức xúc: “Việc cắt xén Điều 2.02(c) và 2.03(a) của Hợp đồng thế chấp gốc trong trích dẫn điều 2.02(c) và 2.03(a) của Quyết định 01 để làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc là nâng khống nợ gốc lên 14,4 tỷ đồng.
Dù bên tòa đã đọc bản sao Hợp đồng thế chấp gốc và có Biên bản làm việc với tôi vào ngày 12/05/2025 được tôi khai rõ ràng khoản tín dụng tối đa là 10,2 tỷ đồng”.
Như vậy, nhưng câu chữ quan trọng đã bị lược bỏ một cách có chủ ý trong Quyết định 01 của toà án nói trên. Không hiểu cắt xén đoạn văn “Giá trị tài sản thế chấp không bắt buộc áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp” và “là 10.200.000.000 đồng”, trong quyết định quan trọng của toà án với mục đích gì?.
Ông Mẫn nhấn mạnh rằng: Việc trích dẫn thiếu nội dung quan trọng nêu trên là nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch lớn trong việc xác định nghĩa vụ tài sản, cần được xem xét, làm rõ.
Ngoài ra, một nội dung khác cũng được ông Mẫn đề nghị xem xét là thửa đất số 643, tờ bản đồ 50, diện tích 14.644,6m², tọa lạc tại thị trấn Mỹ Phước, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, đứng tên bà Nguyễn T. Ng.
Theo ông Mẫn, thửa đất này được hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên thuộc tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình. Trong khi đó, bà Ng. cho rằng mình đứng tên hộ cho Công ty cổ phần đường Bình Định và đây là tài sản riêng, nhưng không cung cấp được tài liệu chứng minh.

Đáng chú ý, trong các bản án ly hôn năm 2020 giữa ông Mẫn và bà Ng. tại TP Hồ Chí Minh, Tòa án cũng không tuyên thửa đất này là tài sản riêng của bà Ng., do tại thời điểm đó tài sản đang được khởi kiện tại TAND huyện Bến Lức (Long An) theo thỏa thuận trong biên bản làm việc giữa ông Mẫn và ngân hàng ngày 17/10/2018.
Sau khi Quyết định số 01/QĐNVTS-PS được ban hành, một số cá nhân, tổ chức đã tiến hành thủ tục sang tên tài sản. Ông Mẫn cho rằng việc này diễn ra khi thủ tục phá sản chưa kết thúc và vụ việc đang trong quá trình khiếu nại, tiềm ẩn nguy cơ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
LS Nguyễn Minh Tường (Công ty Luật Phan Nguyễn, Đoàn LS TPHCM) nêu quan điểm: TAND tỉnh Tây Ninh giải quyết việc "tranh chấp nghĩa vụ tài sản" giữa NH X. với Công ty NIVL bằng hình thức mở phiên họp và ban hành QĐ 01 là không đúng với tố tụng dân sự (TTDS), cũng không đúng với quy định tại Điều 42 Luật Phá sản năm 2014.
Theo Bộ luật TTDS 2015, Tòa án chỉ có thể mở phiên họp giải quyết việc dân sự, nhưng đối với các vụ việc tranh chấp thì phải mở phiên tòa để xét xử và ra bản án mới đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Đồng quan điểm với LS Tường, LS Trần Hải Đức (Đoàn LS TPHCM) nêu thêm: Chiếu theo Điều 4 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 "sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phá sản" về thẩm quyền giải quyết phá sản của TAND và điểm c khoản 1 Điều 5 Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao (có hiệu lực từ ngày 01/7/2025), Tòa án có thẩm quyền xét xử thủ tục phá sản đối với Công ty NIVL là "Doanh nghiệp bị yêu cầu mở thủ tục phá sản" có trụ sở chính tại ấp 6, xã Lương Hòa, tỉnh Tây Ninh là TAND khu vực 4 - Tây Ninh.
QĐ 01 của Tổ thẩm phán TAND tỉnh Tây Ninh có dấu hiệu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tư pháp. Do đó, có căn cứ để Viện trưởng VKSND Tối cao, Chánh án TAND Tối cao, xem xét kháng nghị hủy toàn bộ QĐ 01, giao hồ sơ cho Tòa án khu vực giải quyết theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.









