Xây dựng chế tài để siết chặt quản lý an toàn thực phẩm
Báo cáo kết quả 15 năm thi hành Luật An toàn thực phẩm cho thấy bên cạnh một số kết quả đã đạt được, trong quá trình tổ chức thực hiện đã phát sinh một số tồn tại, vướng mắc và bất cập.

Bộ Y tế đã chỉ ra bất cập như: Các cơ sở sản xuất nhóm thực phẩm nguy cơ cần giám sát chặt chẽ như: Thực phẩm dinh dưỡng y học, thực phẩm dùng cho chế độ ăn đặc biệt, sản phẩm dinh dưỡng dùng cho trẻ đến 36 tháng tuổi, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm bổ sung hiện nay chưa có quy định bắt buộc phải được cấp Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm đạt yêu cầu Thực hành sản xuất tốt (GMP) hoặc Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP) hoặc Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm ISO 22000 hoặc Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế (IFS) hoặc Tiêu chuẩn toàn cầu về an toàn thực phẩm (BRC) hoặc Chứng nhận hệ thống an toàn thực phẩm (FSSC 22000) hoặc chứng nhận tương đương.
Tại khoản 4 Điều 4 Luật An toàn thực phẩm chỉ quy định: Thiết lập khuôn khổ pháp lý và tổ chức thực hiện lộ trình bắt buộc áp dụng hệ thống Thực hành sản xuất tốt (GMP), Thực hành nông nghiệp tốt (GAP), Thực hành vệ sinh tốt (GHP), Phân tích nguy cơ và kiểm soát điểm tới hạn (HACCP) và các hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tiên tiến khác trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm;
Chưa quy định đầy đủ việc thu hồi các giấy phép trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, bao gồm trường hợp hồ sơ công bố sản phẩm dựa trên giấy tờ, tài liệu giả mạo, hàng giả, hàng chứa chất cấm, cũng như chưa có quy định kết nối liên thông dữ liệu với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành để quản lý trực tuyến việc đánh giá nguy cơ, đăng ký lưu hành, công bố, công bố tiêu chuẩn sản phẩm, xuất khẩu, nhập khẩu và truy xuất nguồn gốc, thanh tra, kiểm tra, giám sát thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm;
Về thực phẩm giả, Điều 64 Luật An toàn thực phẩm quy định Bộ Công Thương chủ trì việc phòng, chống thực phẩm giả, gian lận thương mại trong lưu thông, kinh doanh thực phẩm, nhưng không quy định rõ thế nào là thực phẩm giả, không quy định việc phối hợp hoặc tham gia trong việc phòng, chống thực phẩm giả của các bộ khác.
Việc phân chia quản lý sản phẩm thực phẩm theo từng ngành, mỗi ngành quản lý các mặt hàng khác nhau dẫn đến chưa thống nhất trong quản lý, cùng một sản phẩm chỉ thay đổi một vài chất cũng có thể dẫn đến thay đổi cơ chế và cơ quan quản lý, chưa có cơ quan chịu trách nhiệm chính trong quản lý và khi có sự cố về an toàn thực phẩm, ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng;
Luật An toàn thực phẩm năm 2010, Nghị định 15/2018/NĐ-CP có quy định về cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định trong giải quyết tranh chấp và cung cấp phiếu kiểm nghiệm khi công bố sản phẩm, tuy nhiên chưa có quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự thủ tục chỉ định hoặc công bố tiêu chuẩn sản phẩm của cơ sở kiểm nghiệm do nhà nước chỉ định, cơ sở kiểm nghiệm kiểm chứng, cơ sở kiểm nghiệm không do nhà nước chỉ định và phòng kiểm nghiệm của cơ sở sản xuất gây khó khăn trong việc xác định cơ sở kiểm nghiệm được chỉ định cho cơ quan quản lý cũng như các tổ chức, cá nhân tham gia vào quá trình kinh doanh thực phẩm; Chưa quy định về quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đứng tên công bố sản phẩm: Luật An toàn thực phẩm năm 2010 mới chỉ quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức cá nhân sản xuất, kinh doanh thực phẩm mà chưa quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đứng tên công bố sản phẩm.
Điều này gây ra khó khăn cho cơ quan quản lý trong quá trình kiểm soát, thanh tra, kiểm tra sản phẩm lưu thông trên thị trường vì tổ chức, cá nhân đứng tên công bố sản phẩm là người chịu trách nhiệm với cơ quan quản lý với sản phẩm công bố nhưng lại không có trách nhiệm với sản phẩm khi lưu hành là không hợp lý;
Chưa quy định quản lý, nhận diện, truy xuất nguồn gốc thực phẩm, nguyên liệu làm thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, dụng cụ tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm, vật liệu tiếp xúc trực tiếp với thực phẩm lưu hành trên thị trường dựa trên nhãn bao bì ngoài của thực phẩm như in mã vạch (Barcode), mã QR.
Chưa quy định về hệ thống thông tin an toàn thực phẩm bao gồm các thông tin về vòng đời sản phẩm; phân tích nguy cơ; cơ sở kinh doanh thực phẩm; cơ sở thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước, giám định; kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát; thông tin về ngộ độc thực phẩm; truy xuất nguồn gốc thực phẩm…. mà mới chỉ quy định về xây dựng hệ thống thông tin cảnh báo nguy cơ đối với an toàn thực phẩm, các bệnh truyền qua thực phẩm.
Chưa quy định trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin an toàn thực phẩm trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu toàn ngành an toàn thực phẩm; kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu với hệ thống thông tin của tổ chức, cá nhân ngoài ngành y tế, của y tế các nước và tổ chức quốc tế theo quy định của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Chưa quy định về bảo mật thông tin, ngăn ngừa hành vi truy cập trái phép vào hệ thống thông tin an toàn thực phẩm...
Trong dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), cơ quan chủ trì soạn thảo (Bộ Y tế) đã đề xuất Luật này quy định chung về an toàn thực phẩm; quyền và nghĩa vụ của cơ sở kinh doanh thực phẩm; điều kiện đối với thực phẩm; điều kiện đối với cơ sở kinh doanh thực phẩm; biện pháp quản lý an toàn thực phẩm; hoạt động thử nghiệm thực phẩm, giám định phục vụ quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm; hệ thống thông tin về an toàn thực phẩm; truy xuất nguồn gốc về an toàn thực phẩm; thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm
Dự thảo Luật gồm 76 Điều, 9 Chương với những nội dung cơ bản như sau: Quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm (Điều 7 đến Điều 12); Điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, điều kiện bảo đảm an toàn đối với sản xuất, kinh doanh thực phẩm (Điều 13 đến Điều 42).
Biện pháp quản lý an toàn thực phẩm (Điều 43 đến Điều 59); Thông tin, truyền thông về an toàn thực phẩm, quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm (Điều 69 đến Điều 72); Quản lý nhà nước về thực phẩm (Điều 73)
Trong đó, bổ sung trách nhiệm của cơ sở đứng tên đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn sản phẩm để nhằm gắn trách nhiệm một chủ thể cụ thể đối với sản phẩm được đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn sản phẩm; (Điều 11 dự thảo Luật).
Bổ sung quy định phải đáp ứng điều kiện đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc công bố tiêu chuẩn sản phẩm trước khi sản xuất, nhập khẩu, trừ các trường hợp được miễn đăng ký bản công bố sản phẩm hoặc công bố tiêu chuẩn sản phẩm theo quy định. (Điều 13, 22 dự thảo Luật); Bổ sung phương thức quản lý thực phẩm: Cấp, gia hạn, thay đổi, bổ sung giấy đăng ký bản công bố sản phẩm; công bố, thay đổi, bổ sung tiêu chuẩn sản phẩm; miễn đăng ký bản công bố sản phẩm, công bố tiêu chuẩn sản phẩm thể hiện sự thay đổi căn bản trong tư duy lập pháp: phân loại quản lý dựa trên kinh nghiệm quốc tế và điều kiện kinh tế-xã hội của Việt Nam. (Điều 46 đến Điều 50 dự thảo Luật). Bổ sung quy định hậu kiểm, kiểm soát nhằm đảm bảo an toàn đối với thực phẩm sau khi công bố sản phẩm thực phẩm (Điều 58 dự thảo Luật); quy định thu hồi Giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm và gỡ bỏ thông tin sản phẩm đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ công bố sản phẩm, Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. (Điều 50 và 54 dự thảo Luật); Quy định rõ các trường hợp thực phẩm không đảm bảo an toàn phải thu hồi và biện pháp xử lý phù hợp (Điều 57 dự thảo Luật)...










