Tranh chấp đất rừng tại xã Bến Quan, tỉnh Quảng Trị: Công ty Bến Hải nói gì?
Liên quan đến phản ánh của người dân xã Bến Quan (Quảng Trị) về những vướng mắc trong việc chia sẻ lợi ích rừng trồng với Công ty Bến Hải, phóng viên Báo Pháp luật Việt Nam đã làm việc trực tiếp với doanh nghiệp này để làm rõ tính pháp lý liên doanh và thực trạng giao kết hợp đồng.

Như đã thông tin, câu chuyện hàng trăm hecta đất rừng do người dân tự khai hoang ở xã Bến Quan bỗng dưng nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do UBND tỉnh Quảng Trị (cũ) cấp năm 2008 cho Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Bến Hải (Công ty Bến Hải), địa chỉ: Số 11 - Nguyễn Du (xã Vĩnh Linh, Quảng Trị).
Bản chất pháp lý liên doanh
Nói về việc công ty thu 25% sản lượng (hoặc 18 triệu đồng/ha) rừng trồng của người dân nhưng không hề bỏ vốn đầu tư lâm sinh, ông Trần Hậu Ngự - Phó TGĐ Công ty Bến Hải cho biết: “Phương án liên doanh đã trao đổi từ trước và thống nhất. Không phải công ty không bỏ ra chi phí đâu, mà đó là tiền thuê đất, thủ tục quản lý doanh nghiệp, công tác quản lý bảo vệ. Pháp lý là của công ty, GCNQSDĐ là của công ty”.
Ông Ngự lý giải: Cơ sở cốt lõi để xác lập mối quan hệ liên doanh và thu phân chia sản lượng chính là tư cách pháp lý trên GCNQSDĐ mà công ty đang nắm giữ. Tuy nhiên, thực tế này lại phát sinh mâu thuẫn khi đất canh tác trước đó của người dân lại nằm trong GCN này.
Trường hợp ông Trần Hải Ngọc (Thôn 1, Bến Quan) là điển hình. Ngày 26/4/2017, ông Ngọc làm đơn gửi Công ty Bến Hải với nội dung: Năm 2012 gia đình tôi có mua của ông Hà Văn Sản 3ha rừng trồng kinh tế (đất khai hoang từ năm 2004). Đến kỳ khai thác mới biết rừng trên do Xí nghiệp 3, thuộc Công ty Bến Hải quản lý. Nay kính đề nghị Công ty cho phép khai thác diện tích rừng nói trên. Sau khai thác có nguyện vọng được trồng lại để tạo công ăn việc làm.

Đơn lập tức được ông Đào Minh Chung – Giám đốc Xí nghiệp 3 (lúc ấy) thuộc Công ty Bến Hải ký tên đóng dấu xác nhận: đơn của gia đình ông Ngọc là đúng và đề nghị lãnh đạo công ty cho khai thác. “Xác nhận là vậy nhưng công ty bắt tôi phải đóng 25% (gần 100 triệu) chi phí liên doanh mới cho khai thác, rất bất công” – ông Ngọc kể.
Nhiều hộ dân nói rằng, tính tự nguyện, công bằng của hợp đồng liên doanh không được đảm bảo và họ không được giữ bản lưu nào sau khi ký kết. Ông Trần Hậu Ngự khẳng định: “Hợp đồng trước đó là được đọc thông qua các bên, tất cả đều nghe và biết. Muốn sử dụng thì ký và hợp đồng này là từ các đơn vị trực thuộc công ty thực hiện. Các đơn vị sẽ ký với các cá nhân, rồi sau đó đưa hồ sơ về trình lãnh đạo ký. Thông tin công ty ép ký hồ sơ liên doanh là không có, vì người dân khi đã ký vào hợp đồng liên danh là họ có tư cách pháp nhân... Hợp đồng sẽ có lưu 2 bản và ai cần sẽ sao lưu cho 1 bản, chứ chả có vấn đề gì cả”.

Tuy nhiên, các bản hợp đồng liên doanh thực tế mà phóng viên thu thập được, thì tại điều khoản về hiệu lực và số lượng đều ghi rất rõ: “Hợp đồng được lập thành 03 bản có giá trị pháp lý như nhau, Bên A (công ty) giữ 02 bản, Bên B (người dân) giữ 01 bản”. Thực tế người dân không hề được bàn giao bản chính nào sau khi hoàn tất chữ ký. Liên quan vấn đề này, đại diện công ty lại thản nhiên cho rằng “ai cần thì sao lưu cho 1 bản”, đã bộc lộ bất cập trong quy trình giao kết.
Luật sư Vũ Xuân Hải - Giám đốc Công ty Luật Đông Dương - đại diện theo ủy quyền cho các hộ dân đang tranh chấp đất, khẳng định: “Căn cứ Điều 3, Điều 117 và Điều 400 Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch dân sự chỉ đảm bảo tính pháp lý khi các bên hoàn toàn bình đẳng, tự nguyện và được nắm giữ văn bản gốc.
Việc giữ toàn bộ bản chính, không giao lại cho dân không chỉ vi phạm điều khoản hợp đồng do chính doanh nghiệp soạn thảo, mà còn tước đi quyền tiếp cận thông tin, đẩy người nông dân Bến Quan vào thế bất lợi khi phát sinh tranh chấp. Các cơ quan chức năng cần đánh giá toàn diện lại việc xác lập, thực hiện các giao dịch này và có thể tuyên hủy nó”.
Thừa nhận đất bị “cấp chồng”
Ban giám đốc Công ty Bến Hải cũng thẳng thắn thừa nhận những bất cập do lịch sử quản lý đất đai để lại. Ông Trần Hậu Ngự khẳng định: “Trước đây việc cấp GCNQSDĐ cho công ty có chồng lấn lên đất của một số người dân. Vì thực tế, một số bà con được cấp GCN trước thời điểm năm 2008... Trong các buổi làm việc để hòa giải vừa qua, công ty cũng thống nhất quan điểm là người dân không sai mà sai là ở cơ quan quản lý Nhà nước”.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Xuân Minh – Tổng Giám đốc Công ty Bến Hải cho biết, công ty sẵn sàng phối hợp cùng chính quyền để bóc tách trả lại đất cho người dân, nếu họ chứng minh được nguồn gốc hợp pháp.

“Lúc đó để được cấp GCN, công ty đã thuê Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên đo đạc. Còn vấn đề soát xét lại có GCN, giấy xác nhận của chính quyền hay không thì có mấy đơn vị, trong đó là UBND xã (cũ) sẽ được lấy ý kiến. Còn ai được cấp GCN hay không thì công ty không thể biết. Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên là đơn vị thuộc Sở TN&MT (cũ), thì họ phải soát xét, rà soát bóc tách. Khi đó có sự chồng chéo nhiệm vụ giữa đơn vị này với UBND huyện Vĩnh Linh (cũ). Và chắc phía UBND xã cũng không có ý kiến phản đối, nên hồ sơ mới được Sở TN&MT thẩm định rồi trình UBND tỉnh cấp GCN” – ông Ngự lý giải thêm.
Doanh nghiệp này cho rằng thẩm quyền và tiến độ giải quyết phụ thuộc hoàn toàn vào quá trình rà soát của UBND xã Bến Quan cùng các cơ quan thẩm quyền. Khi việc rà soát giữa chính quyền và doanh nghiệp chưa có hồi kết, hệ lụy đang đè nặng lên vai người nông dân. Do chưa thống nhất được phương án liên doanh, công ty không xác nhận nguồn gốc lâm sản. Vì thiếu cái gật đầu của doanh nghiệp, Kiểm lâm không giải quyết thủ tục để dân khai thác rừng.
Cũng theo LS. Vũ Xuân Hải: “Quy định về hợp tác, liên doanh tại Điều 504 Bộ luật Dân sự 2015, các bên phải cùng góp vốn, cùng hưởng lợi và cùng chịu rủi ro từ hoạt động hợp tác. Nếu Công ty Bến Hải chỉ góp vốn bằng quyền sử dụng đất nhưng không bỏ vốn nhưng vẫn yêu cầu hưởng lợi nhuận bằng cách tính “tiền thuê đất, phí quản lý doanh nghiệp” vào nghĩa vụ của người dân. Bản chất quan hệ này có dấu hiệu “phát canh thu tô” hơn là hợp tác bình đẳng”.

“Tranh chấp giữa công ty và người dân về quyền sử dụng đất hiện đang chờ cơ quan có thẩm quyền rà soát, xử lý theo Điều 152 Luật Đất đai 2024. Nhưng việc đã được cấp GCNQSDĐ không đồng nghĩa công ty được quyền bỏ đất, giao khoán trắng cho người dân và cần được xem xét thu hồi đất theo Điều 181 của luật này” - LS. Hải nói thêm.
Luật sư Hải đặt câu hỏi: “Cây trồng trên đất là tài sản do người dân tạo lập, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của họ, được pháp luật dân sự bảo vệ. Hàng trăm hecta rừng keo quá tuổi khai thác (6 – 7 năm, có nơi đã hơn 10 năm) đang có nguy cơ mục ruột, chết khô và nếu thiệt hại khi mưa bão ập đến, thì ai sẽ chịu trách nhiệm và bồi thường cho dân?”














