Thành phố Quảng Ninh: Kiến tạo tầm vóc mới
Ngày 24/8, Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương. Dấu mốc mới mở ra không gian phát triển lớn hơn, đồng thời đặt ra những mục tiêu bứt phá đến năm 2030.

Một ngày sau khi Quốc hội biểu quyết thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, câu chuyện đặt ra không chỉ là vị thế mới của địa phương trên bản đồ đô thị cả nước, mà quan trọng hơn là Quảng Ninh sẽ làm gì để vị thế ấy được thể hiện bằng năng lực phát triển, sức cạnh tranh và chất lượng sống của người dân.
Trở thành thành phố trực thuộc Trung ương mở ra một không gian phát triển mới, nhưng cũng đồng nghĩa với những yêu cầu cao hơn.
Quảng Ninh không chỉ cần duy trì tốc độ tăng trưởng đã tạo dựng trong nhiều năm, mà phải chuyển mạnh sang nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát huy hiệu quả các nguồn lực, hoàn thiện kết cấu hạ tầng, nâng tầm quản trị đô thị và tạo thêm những động lực mới đủ sức dẫn dắt phát triển trong dài hạn.

Mục tiêu đến năm 2030 đã được xác định khá rõ: xây dựng Quảng Ninh trở thành cực tăng trưởng quốc gia, tạo động lực phát triển vùng, có sức lan tỏa và khả năng cạnh tranh quốc tế; phát triển cân bằng giữa kinh tế, xã hội và môi trường; tích hợp đô thị, biển, biên giới, di sản thành một hệ sinh thái phát triển hoàn chỉnh.
Đó là một yêu cầu phù hợp với những lợi thế đặc biệt của Quảng Ninh. Không nhiều địa phương cùng lúc sở hữu đường biên giới trên bộ, đường biên giới trên biển, hệ thống cảng biển, sân bay quốc tế, đường cao tốc, cửa khẩu quốc tế, tài nguyên khoáng sản và Di sản thiên nhiên thế giới.

Vấn đề của giai đoạn tới không đơn thuần là khai thác từng lợi thế riêng lẻ, mà phải kết nối những lợi thế ấy thành sức mạnh tổng hợp.
Theo định hướng phát triển, Quảng Ninh sẽ trở thành trung tâm kinh tế biển, công nghiệp du lịch, công nghiệp văn hóa, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao hiện đại, kinh tế di sản, kinh tế đêm và kinh tế đô thị của quốc gia.
Đây cũng là hướng đi nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và tạo thêm những ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 12%/năm cho thấy yêu cầu rất lớn về sức bật của nền kinh tế. Đến năm 2030, GRDP bình quân đầu người theo giá hiện hành phấn đấu đạt khoảng 20.000 USD/người.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng hiện đại, với dịch vụ chiếm khoảng 40-43% GRDP; công nghiệp - xây dựng khoảng 45-48%; nông, lâm nghiệp và thủy sản khoảng 2-5%. Đáng chú ý, kinh tế số được đặt mục tiêu chiếm khoảng 30% GRDP.
Nhưng tăng trưởng nhanh chưa đủ, điểm đáng chú ý trong các mục tiêu đến năm 2030 là yêu cầu về chất lượng được đặt song hành với tốc độ. Năng suất lao động xã hội phấn đấu tăng bình quân 12%/năm; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp vào tăng trưởng giai đoạn 2021-2030 đạt trên 55%.
Điều đó đòi hỏi động lực phát triển phải ngày càng dựa nhiều hơn vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chất lượng nguồn nhân lực và hiệu quả quản trị.
Khi dư địa phát triển dựa chủ yếu vào vốn đầu tư, tài nguyên và mở rộng quy mô dần thu hẹp, năng suất và hàm lượng công nghệ phải trở thành những yếu tố tạo khác biệt.
Với một thành phố trực thuộc Trung ương có không gian rộng, trải dài từ khu vực phía Tây đến biên giới Móng Cái và các tuyến đảo, kết nối hạ tầng tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng.
Đến năm 2030, Quảng Ninh đặt mục tiêu xây dựng mới 124km đường sắt tốc độ cao; khoảng 57km đường bộ cao tốc thuộc tuyến Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long qua địa bàn.
Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn hướng tới công suất 2,5 triệu hành khách/năm. Các khu vực cảng biển Hòn Nét - Con Ong, Yên Hưng, Cái Lân, Hải Hà, Vạn Ninh - Vạn Gia tiếp tục được đầu tư, phát triển.
Nếu hệ thống cao tốc đã góp phần tạo nên bước chuyển lớn về kết nối của Quảng Ninh trong giai đoạn trước, thì giai đoạn mới đòi hỏi một mạng lưới giao thông đa phương thức hoàn chỉnh hơn.
Đường bộ, đường sắt, hàng không, cảng biển không thể phát triển rời rạc mà phải kết nối hiệu quả với các trung tâm đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, cửa khẩu và các trung tâm du lịch. Hạ tầng vì thế không chỉ được tính bằng số kilômét đường mới hay công suất của sân bay, bến cảng.
Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các khu vực, tạo điều kiện để nguồn lực, hàng hóa, du khách và lao động lưu chuyển nhanh hơn, qua đó hình thành những hành lang kinh tế mới.
Cùng với hạ tầng cứng, thành phố Quảng Ninh đặt yêu cầu cao đối với hạ tầng số và quản trị thông minh. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn trong quản lý giao thông, năng lượng, môi trường và dịch vụ công sẽ tạo nền tảng để chính quyền chuyển mạnh từ quản lý hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu.
Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với một đô thị có quy mô và không gian quản lý lớn. Một thành phố thông minh trước hết phải là nơi người dân, doanh nghiệp được giải quyết công việc nhanh hơn, minh bạch hơn; các vấn đề về giao thông, môi trường, quy hoạch, đất đai, dịch vụ công được nhận diện và xử lý kịp thời hơn.
Tỷ lệ đô thị hóa của Quảng Ninh được đặt mục tiêu vượt 75% vào năm 2030. Nhưng đô thị hóa không thể chỉ là mở rộng diện tích xây dựng hay gia tăng dân số đô thị. Đó phải là quá trình nâng chất lượng không gian sống, hoàn thiện dịch vụ thiết yếu và tạo sự phát triển hài hòa giữa các khu vực.
Bởi vậy, bên cạnh những chỉ tiêu kinh tế, hàng loạt mục tiêu xã hội được xác định cụ thể. Đến năm 2030, dân số thường trú của Quảng Ninh dự kiến khoảng 1,75 triệu người; trên 90% lao động được đào tạo, trong đó 48% có bằng cấp, chứng chỉ; tỷ lệ thất nghiệp dưới 2%. Bình quân diện tích sàn nhà ở phấn đấu đạt khoảng 36m²/người.
Trong lĩnh vực y tế, mục tiêu đạt 68 giường bệnh, 20 bác sĩ, 8 dược sĩ đại học và 33 điều dưỡng trên 1 vạn dân; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế hướng tới 100%. Tuổi thọ trung bình trên 76 tuổi, chỉ số phát triển con người thuộc nhóm 5 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước.

Giáo dục đặt mục tiêu trên 95% trường đạt chuẩn quốc gia. Quảng Ninh tiếp tục duy trì không còn hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia. Những chỉ tiêu ấy cho thấy một yêu cầu xuyên suốt, đó là quy mô nền kinh tế lớn hơn phải đi cùng chất lượng cuộc sống tốt hơn. GRDP bình quân đầu người tăng phải được phản ánh trong thu nhập, việc làm, nhà ở, giáo dục, y tế và khả năng tiếp cận dịch vụ công của từng người dân. Thành quả phát triển phải lan tỏa từ các trung tâm đô thị lớn đến miền núi, biên giới, hải đảo và những địa bàn còn khó khăn.
Cùng với đó là bài toán giữ môi trường sống xanh trong quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nhanh.Đến năm 2030, trên 99% dân số đô thị được sử dụng nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung; 100% nước thải tại các khu đô thị tập trung được thu gom, xử lý; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn xả thải; tỷ lệ che phủ rừng duy trì trên 50%.
Đối với Quảng Ninh, đây không chỉ là yêu cầu môi trường. Vịnh Hạ Long, Yên Tử, Bái Tử Long cùng hệ thống rừng, biển, đảo và cảnh quan đặc sắc chính là nguồn lực phát triển lâu dài. Vì thế, tăng trưởng càng nhanh càng phải kiểm soát chặt chất lượng môi trường, sử dụng tiết kiệm tài nguyên và bảo vệ không gian di sản.
Phía trước là một khối lượng công việc rất lớn. Những chỉ tiêu đến năm 2030 đều ở mức cao, trong khi thời gian còn lại không dài. Điều đó đòi hỏi ngay từ những năm đầu của mô hình thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh phải tiếp tục nâng cao hiệu lực quản trị, cải thiện môi trường đầu tư, tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, quy hoạch, hạ tầng, nguồn nhân lực; đồng thời lựa chọn đúng những dự án có khả năng tạo động lực và sức lan tỏa lớn.
Ngày 24/8 đánh dấu một bước chuyển quan trọng, nhưng phía trước mới là chặng đường quyết định tầm vóc của thành phố Quảng Ninh. Những mục tiêu đến năm 2030 sẽ phải được cụ thể hóa bằng những tuyến kết nối mới, những ngành kinh tế mới, những đô thị hiện đại hơn và chất lượng dịch vụ công, giáo dục, y tế, môi trường tốt hơn.
Từ vị thế mới, Quảng Ninh đang có thêm điều kiện để tổ chức lại không gian phát triển, khai mở những dư địa còn nhiều tiềm năng và nâng cao sức cạnh tranh trong liên kết vùng, quốc gia và quốc tế.
Khi mỗi động lực tăng trưởng mới được hình thành, mỗi khoảng cách phát triển từng bước được thu hẹp và thành quả đi vào đời sống của từng người dân, một tầm vóc mới của Quảng Ninh sẽ dần được định hình.
Phía trước năm 2030 không chỉ là những mục tiêu cần hoàn thành, mà là một không gian phát triển rộng mở để thành phố Quảng Ninh vươn lên mạnh mẽ hơn, trở thành cực tăng trưởng có sức lan tỏa của quốc gia và một đô thị ngày càng đáng sống ở vùng Đông Bắc./.











