Tài sản chung do chồng thu lợi bất chính: Không được chia, coi chừng vợ còn thành đồng phạm!
Trong nhiều vụ chia tài sản ly hôn mà người chồng can án kinh tế, ranh giới giữa “người vợ có công sức tạo lập tài sản” và “người đồng phạm giúp sức” đôi khi không nằm ở tờ giấy đăng ký kết hôn, mà nằm ở mức độ nhận thức, ý chí và hành vi thực tế của mỗi người trong toàn bộ quá trình hình thành khối tài sản chung.

Thạc sĩ, Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền (Giám đốc Công ty Luật HPL, Thành phố Hồ Chí Minh) chia sẻ góc nhìn pháp lý về tình huống trớ trêu nhưng không hiếm gặp trên thực tế, đồng thời gửi gắm những thông điệp cảnh báo về việc thận trọng, tỉnh táo khi vun vén gia đình, tạo lập khối tài sản chung vợ chồng nhưng phải đúng khuôn khổ pháp luật.
* Thưa Luật sư Đặng Thị Thúy Huyền, đây là tình huống đã xảy ra trên thực tế, xin hỏi trường hợp này khối tài sản chung sẽ được Tòa xem xét như thế nào?
- Thực tiễn thi hành pháp luật cho thấy, khi giải quyết ly hôn, chia tài sản chung vợ chồng trong trường hợp khi người chồng bị khởi tố về trốn thuế, buôn lậu, sản xuất hàng giả, lừa đảo, rửa tiền, vi phạm quy định về kế toán, chứng khoán hoặc các tội phạm kinh tế khác, lúc này, câu hỏi lớn nhất không còn là “chia tài sản thế nào?” mà là: Liệu người vợ có bị xem xét trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm hay không?
Không ít người cho rằng người vợ chỉ cần chứng minh có công sức vun vén gia đình là sẽ được chia tài sản khi ly hôn. Nhưng nếu cơ quan điều tra xác định toàn bộ khối tài sản chung vợ chồng hình thành từ hành vi phạm tội của người chồng thì câu chuyện pháp lý lập tức chuyển sang một hướng hoàn toàn khác: từ tranh chấp dân sự sang nguy cơ bị xem xét trách nhiệm hình sự.
* Nghĩa là tài sản chung vợ chồng không đồng nghĩa là tài sản hợp pháp, thưa Luật sư?
- Đúng vậy. Luật Hôn nhân và Gia đình quy định, tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân về nguyên tắc được xác định là tài sản chung. Nhưng nguyên tắc đó chỉ áp dụng đối với tài sản được xác lập hợp pháp.
Nếu cơ quan điều tra chứng minh: khối tài sản chung tạo lập từ nguồn tiền có từ hành vi trốn thuế; lợi nhuận có từ buôn lậu; doanh thu có từ lừa đảo; hoặc tài sản được mua bằng nguồn tiền phạm tội…; thì đây không còn đơn thuần là tài sản chung của vợ chồng.
Mà lúc này đó có thể là vật chứng, tài sản do phạm tội mà có hoặc tài sản liên quan trực tiếp đến tội phạm, thuộc diện bị kê biên, phong tỏa hoặc tịch thu theo quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Trường hợp này, dù có đứng tên sở hữu thì người vợ cũng không có quyền yêu cầu được chia.

* Liệu người vợ có bị coi là đồng phạm do đứng tên hoặc có liên quan đến khối tài sản được tạo lập từ nguồn tiền bất chính mà người chồng có được?
- Câu trả lời là không. Pháp luật hình sự Việt Nam không xử lý hình sự theo quan hệ vợ chồng. Việc là vợ của bị can, bị cáo không làm phát sinh trách nhiệm hình sự. Muốn kết luận người vợ có đồng phạm hay không, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu của đồng phạm theo Điều 17 Bộ luật Hình sự.
Nghĩa là phải chứng minh người vợ: biết rõ hành vi phạm tội; có lỗi cố ý; cùng thực hiện; hoặc giúp sức; hoặc tổ chức; hoặc xúi giục. Nếu không chứng minh được những yếu tố này thì không thể chỉ vì là vợ mà kết luận là đồng phạm với hành vi của chồng.
*Vậy trong trường hợp người vợ không biết đó là tiền do phạm tội mà có thì vợ có vô can?
- Đây là điểm rất nhiều người hiểu nhầm. Không phải cứ khai: “Tôi không biết.” là được miễn trách nhiệm. Mà thực tế, Cơ quan điều tra sẽ xem xét toàn bộ chứng cứ, chuỗi hành vi trong diễn biến khách quan của sự việc.
Chẳng hạn xem người vợ có cùng điều hành doanh nghiệp với chồng hay không; có cùng ký chứng từ kế toán; có đứng tên hóa đơn; có tham gia kê khai thuế; có chuyển tiền qua nhiều tài khoản; có nhận tiền mặt rồi gửi lại… Hoặc có giúp che giấu doanh thu; có lập công ty “sân sau”; có ký hợp đồng khống; có biết doanh nghiệp bán hóa đơn; có bàn bạc cách đối phó cơ quan thuế. Nếu tất cả chứng cứ đều cho thấy người vợ biết rõ nguồn tiền bất hợp pháp nhưng vẫn tích cực tham gia, việc bị xác định là đồng phạm là hoàn toàn có thể xảy ra.
* Vậy trường hợp người vợ đứng ngoài các hành vi, không trực tiếp tham gia mà chỉ đứng tên tài sản thì có bị xem xét trách nhiệm hình sự?
- Thực tế đã xảy ra nhiều tình huống như thế. Rất nhiều gia đình có thói quen: nhà đứng tên vợ; đất đứng tên vợ; xe đứng tên vợ; sổ tiết kiệm đứng tên vợ. Nhiều người nghĩ: “Đứng tên hộ thì không sao.” Đây là suy nghĩ cực kỳ nguy hiểm.
Nếu việc đứng tên nhằm: che giấu tài sản phạm tội; hợp thức hóa nguồn tiền; tránh bị kê biên, tẩu tán tài sản, che giấu nguồn gốc tài sản…, thì hành vi này có thể trở thành chứng cứ chứng minh việc giúp sức hoặc thậm chí liên quan đến hành vi rửa tiền nếu đủ yếu tố cấu thành theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Nhưng nếu người vợ thật sự không biết thì sao? Trong trường hợp người vợ: chỉ ở nhà nội trợ, không tham gia điều hành doanh nghiệp, không biết hoạt động kinh doanh, không quản lý sổ sách, không ký hồ sơ, không hưởng lợi với ý thức biết rõ nguồn tiền phạm tội… thì rất khó có căn cứ xác định đồng phạm.
Tuy nhiên, phần tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội vẫn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật, dù người vợ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Điều này cho thấy: không bị xác định đồng phạm không đồng nghĩa với việc người vợ vẫn được chia nửa khối tài sản.
* Liệu có xảy ra tình trạng đương sự tiến hành ly hôn, chia tài sản trước nhằm tẩu tán khối tài sản?
- Thực tế vẫn có thể xảy ra, nhưng chỉ ở thời điểm hành vi phạm pháp chưa bị phát hiện, điều tra, khởi tố. Còn khi hành vi phạm tội đã bị phát hiện, thì trong mọi trường hợp tòa án dân sự thường phải chờ kết quả vụ án hình sự. Khi tranh chấp chia tài sản phát sinh cùng lúc với vụ án hình sự, trên thực tế, Tòa án dân sự thường phải xem xét việc tạm đình chỉ giải quyết hoặc căn cứ vào kết quả giải quyết vụ án hình sự đối với phần tài sản có liên quan. Bởi chỉ sau khi xác định được: tài sản nào hợp pháp, tài sản nào là tài sản do phạm tội mà có, tài sản nào thuộc diện phải thu hồi… thì mới có cơ sở xác định phần tài sản hợp pháp còn lại để chia theo Luật Hôn nhân và Gia đình.
* Từ thực tế này, Luật sư muốn lưu ý bài học pháp lý gì đến người dân?
- Từ thực tiễn kinh nghiệm nhiều năm giải quyết các vụ án ly hôn, chia tài sản mà người chồng là bị án kinh tế, Luật sư thấy rằng điều đáng sợ nhất trong tình huống này không phải là người chồng bị bắt.
Mà là nhiều người vợ suốt nhiều năm vẫn tin rằng mình chỉ là người giữ tiền, đứng tên nhà, ký giấy tờ “cho chồng”, vun vén gia đình, nhưng khi vụ án khởi tố mới biết chính những chữ ký, những giao dịch ngân hàng, những lần nhận - chuyển tiền hoặc việc đứng tên tài sản có thể trở thành chứng cứ để cơ quan điều tra đánh giá vai trò của mình.
Pháp luật không kết tội một người chỉ vì họ là vợ của bị can. Nhưng pháp luật cũng không miễn trách nhiệm cho bất kỳ ai nếu có đủ chứng cứ chứng minh họ biết rõ nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản và đã cố ý cùng tham gia, giúp sức hoặc che giấu hành vi phạm tội.
Trong các vụ án kinh tế, ranh giới giữa “người vợ có công sức tạo lập tài sản” và “người đồng phạm giúp sức” đôi khi không nằm ở tờ giấy đăng ký kết hôn, mà nằm ở mức độ nhận thức, ý chí và hành vi thực tế của mỗi người trong toàn bộ quá trình hình thành khối tài sản đó. Bởi vậy, mỗi công dân nói chung, nhất là những người vợ hãy thận trọng, tỉnh táo, vun vén gai đình nhưng phải đúng lằn ranh pháp luật – đó cũng là cách bảo vệ tổ ấm và bảo vệ chính mình.
Xin cảm ơn Luật sư!










