Quảng Ninh trước vận hội mới
Từ dấu mốc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Quảng Ninh đứng trước yêu cầu tạo lập mô hình tăng trưởng mới, hiện đại hơn, xanh hơn và gắn chặt với chất lượng sống của người dân.

Chiều nay, 24/8, Quốc hội khóa XVI sẽ biểu quyết thông qua Nghị quyết thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương, xác lập một vị thế phát triển mới cho vùng địa đầu Đông Bắc.
Từ dấu mốc này, Quảng Ninh đứng trước yêu cầu lớn hơn: kiến tạo một cực tăng trưởng tầm quốc gia, đổi mới quản trị, nâng chất lượng đô thị và đưa thành quả phát triển đến từng người dân.
Việc thành lập thành phố Quảng Ninh trực thuộc Trung ương là bước chuyển quan trọng về mô hình tổ chức và không gian phát triển của địa phương.
Sau nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đầu tư mạnh cho kết cấu hạ tầng, cải thiện môi trường đầu tư, phát triển hệ thống đô thị và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, Quảng Ninh bước sang giai đoạn mới với yêu cầu cao hơn về chất lượng tăng trưởng, năng lực quản trị, liên kết vùng và chất lượng đời sống nhân dân.
Theo Đề án, thành phố Quảng Ninh được thành lập trên cơ sở giữ nguyên diện tích tự nhiên, quy mô dân số và số đơn vị hành chính cấp xã hiện có, với diện tích 6.231,27km², dân số 1.523.400 người và 54 đơn vị hành chính cấp xã.
Đặc điểm của Quảng Ninh là không gian rất rộng, trải dài từ phía Tây đến biên giới phía Đông, bao gồm đô thị, nông thôn, miền núi, biên giới, biển, đảo; đồng thời tập trung nhiều khu kinh tế, khu công nghiệp, cửa khẩu, cảng biển và các vùng di sản.
Vì vậy, yêu cầu đặt ra sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương không đơn thuần là tổ chức lại bộ máy hành chính, mà phải tổ chức lại không gian phát triển theo hướng liên kết chặt chẽ hơn, khai thác rõ hơn thế mạnh của từng khu vực và hạn chế tình trạng phát triển thiếu đồng đều.
Các địa phương như: Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn, Móng Cái và các địa bàn phía Đông, phía Tây cần được đặt trong một cấu trúc phát triển thống nhất.
Mỗi khu vực có chức năng, lợi thế riêng nhưng phải bổ trợ cho nhau thông qua hệ thống giao thông, logistics, dịch vụ, thương mại, công nghiệp và du lịch.
Hạ Long tiếp tục giữ vai trò trung tâm; Cẩm Phả phát huy nền tảng công nghiệp; Vân Đồn khai thác lợi thế kinh tế biển, dịch vụ và hàng không; Móng Cái phát triển mạnh kinh tế cửa khẩu, thương mại và logistics; các địa bàn phía Đông như Tiên Yên giữ vai trò kết nối các khu vực miền núi, biên giới với chuỗi đô thị ven biển và cửa khẩu.
Đây cũng là yêu cầu để khắc phục cách phát triển theo từng địa bàn riêng lẻ. Khi toàn bộ Quảng Ninh trở thành một thành phố trực thuộc Trung ương, quy hoạch giao thông, đô thị, đất đai, công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng xã hội phải được tính toán trong một không gian chung.

Một tuyến đường mới không chỉ giải quyết nhu cầu đi lại của một địa phương; một khu công nghiệp không chỉ tính đến nguồn thu tại nơi đặt dự án; một khu du lịch cũng không thể tách khỏi mạng lưới giao thông, dịch vụ, nguồn nhân lực và sản phẩm du lịch của toàn thành phố.
Quảng Ninh đã có nền tảng khá rõ để thực hiện bước chuyển này. Hệ thống cao tốc kết nối xuyên tỉnh, cảng hàng không quốc tế Vân Đồn, hệ thống cảng biển, cửa khẩu quốc tế và mạng lưới đô thị đang tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức lại các chuỗi sản xuất, thương mại, du lịch và dịch vụ.
Tuy nhiên, lợi thế hạ tầng chỉ phát huy đầy đủ khi hình thành được các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao.
Thành phố Quảng Ninh cần tiếp tục giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên, đẩy nhanh công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế xanh; đồng thời khai thác hiệu quả kinh tế biển, du lịch, logistics và thương mại biên giới.
Trong lĩnh vực du lịch, yêu cầu không còn chỉ là tăng số lượng khách. Quảng Ninh cần tăng thời gian lưu trú, mức chi tiêu và tỷ lệ khách quay trở lại; phát triển các sản phẩm nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch biển đảo và kinh tế đêm.
Hạ Long phải tiếp tục giữ vai trò trung tâm du lịch, nhưng dòng khách cần được kết nối mạnh hơn tới Yên Tử, Vân Đồn, Cô Tô, Móng Cái, Bình Liêu, Tiên Yên và các khu vực khác để mở rộng địa bàn hưởng lợi từ du lịch.
Logistics cũng cần được nhìn trong một chuỗi liên hoàn từ cửa khẩu Móng Cái tới các khu kinh tế, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay và hệ thống cao tốc.
Quảng Ninh có đủ các loại hình giao thông quan trọng, nhưng lợi thế đó cần được chuyển thành khả năng giảm chi phí vận chuyển, rút ngắn thời gian lưu thông hàng hóa, tăng năng lực trung chuyển và thu hút các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng.
Đối với công nghiệp, chuyển dịch từ khai thác tài nguyên sang chế biến, chế tạo phải tiếp tục được thực hiện quyết liệt hơn.
Thu hút đầu tư cần ưu tiên dự án công nghệ cao, sử dụng ít tài nguyên, ít năng lượng, có giá trị gia tăng lớn, quản trị hiện đại và khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước.
Việc lựa chọn dự án phải gắn với yêu cầu bảo vệ môi trường, sử dụng đất hiệu quả và khả năng đóng góp lâu dài cho nền kinh tế.
Cùng với chuyển đổi mô hình kinh tế là yêu cầu đổi mới phương thức quản trị. Một thành phố có diện tích hơn 6.200km², dân số trên 1,5 triệu người và địa bàn trải rộng từ miền núi đến biển đảo không thể vận hành hiệu quả nếu dữ liệu giữa các cơ quan còn phân tán, thủ tục còn nhiều tầng nấc và việc xử lý công việc vẫn phụ thuộc quá nhiều vào hồ sơ giấy.
Đô thị thông minh vì vậy cần tập trung trước hết vào những vấn đề cụ thể: liên thông dữ liệu dân cư, đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, giao thông, môi trường; giảm thủ tục cho người dân và doanh nghiệp; tăng khả năng giám sát tiến độ dự án; phát hiện sớm các vấn đề về ngập lụt, sạt lở, giao thông, ô nhiễm và quản lý tài nguyên.
Công nghệ phải giúp giảm thời gian giải quyết công việc, giảm chi phí xã hội và tăng tính công khai.
Một thủ tục đã có dữ liệu trên hệ thống thì không nên yêu cầu người dân cung cấp lại.
Một dự án chậm tiến độ phải xác định được khâu nào chậm và trách nhiệm thuộc về đâu. Một phản ánh của người dân phải theo dõi được quá trình tiếp nhận, xử lý và kết quả cuối cùng.
Yêu cầu này càng quan trọng khi Quảng Ninh chuyển sang mô hình thành phố trực thuộc Trung ương. Quy mô lớn hơn, khối lượng công việc nhiều hơn và tốc độ đô thị hóa nhanh hơn đòi hỏi trách nhiệm trong bộ máy phải cụ thể hơn.
Mỗi nhiệm vụ cần rõ đầu việc, rõ thời hạn, rõ kết quả và rõ trách nhiệm của cơ quan, cá nhân thực hiện.
Cùng với phát triển các trung tâm động lực, Quảng Ninh phải giải quyết bài toán chênh lệch giữa các khu vực.
Trong cùng một thành phố sẽ có những phường đô thị phát triển cao nhưng cũng có các xã miền núi, biên giới, địa bàn đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực biển đảo.
Nếu hạ tầng và dịch vụ công chỉ tập trung vào các khu vực có điều kiện thuận lợi, khoảng cách phát triển sẽ tiếp tục gia tăng.
Vì vậy, đầu tư cho giao thông, giáo dục, y tế, nước sạch, hạ tầng số, việc làm và sinh kế tại các địa bàn miền núi, biên giới, biển đảo cần tiếp tục được ưu tiên.
Chuyển đổi số cũng phải tính tới khả năng tiếp cận của người dân vùng xa, người cao tuổi và những nhóm chưa có điều kiện sử dụng thành thạo công nghệ.
Việc trở thành thành phố trực thuộc Trung ương phải tạo chuyển biến cụ thể ngay từ cơ sở.
Người dân cần thấy thủ tục hành chính thuận tiện hơn, đường giao thông tốt hơn, trường học và cơ sở y tế được đầu tư tốt hơn, cơ hội việc làm nhiều hơn, môi trường sống được cải thiện và khoảng cách tiếp cận dịch vụ giữa các khu vực từng bước được thu hẹp.
Quá trình đô thị hóa cũng đặt ra sức ép lớn đối với đất đai, môi trường và cảnh quan.
Quảng Ninh có biển, đảo, rừng, vịnh, vùng di sản và hệ sinh thái tự nhiên phong phú. Đây đồng thời là nguồn lực trực tiếp của du lịch, dịch vụ và chất lượng sống.
Do đó, phát triển đô thị phải đi cùng kiểm soát mật độ xây dựng, bảo vệ hành lang biển, rừng, nguồn nước, cảnh quan và các vùng sinh thái nhạy cảm.
Việc lựa chọn dự án đầu tư cần tính đầy đủ hiệu quả kinh tế, tác động môi trường, nhu cầu hạ tầng và khả năng chịu tải của từng khu vực.
Không thể để tốc độ đô thị hóa vượt quá khả năng đáp ứng của giao thông, cấp thoát nước, xử lý chất thải, trường học và y tế.
Định hướng xây dựng thành phố Quảng Ninh “Trung tâm, xanh, thông minh, có bản sắc” vì thế phải được cụ thể hóa bằng quy hoạch, dự án, tiêu chuẩn quản lý và kết quả thực hiện.
“Xanh” phải thể hiện trong chất lượng môi trường và lựa chọn mô hình tăng trưởng. “Thông minh” phải thể hiện ở hiệu quả quản trị.
“Bản sắc” phải được giữ trong kiến trúc, văn hóa, di sản và đời sống cộng đồng. “Trung tâm” phải được khẳng định bằng năng lực kết nối, sức cạnh tranh và khả năng dẫn dắt phát triển của khu vực.
Quảng Ninh đã có nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, thuộc nhóm địa phương có quy mô kinh tế và thu ngân sách lớn của cả nước. Năm 2025, tốc độ tăng trưởng đạt 11,89%.
Nhưng khi bước sang giai đoạn phát triển mới, bên cạnh tốc độ tăng trưởng cần chú trọng hơn tới chất lượng và hiệu quả của tăng trưởng.
Nghị quyết của Quốc hội mở ra một không gian phát triển mới. Việc biến không gian ấy thành động lực tăng trưởng, thành những đô thị hiện đại, những vùng nông thôn phát triển, những khu vực miền núi, biên giới, biển đảo ngày càng khởi sắc và đời sống người dân ngày càng được nâng lên là nhiệm vụ Quảng Ninh phải bắt tay thực hiện ngay khi bước vào vị thế mới./.











