Đang chấp hành án treo có được đi du lịch nước ngoài với gia đình không?
Người phạm tội bị tòa tuyên phạt án treo và chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, trong thời gian thử thách này muốn xuất cảnh đi du lịch cùng gia đình thì có bị ngăn cấm hay không?

Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định về chế địn Án treo như sau: "Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 03 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần bắt họ phải chấp hành hình phạt tù”.
Khi người phạm tội được hưởng án treo thì sẽ bị ấn định thời gian thử thách theo quy định tại điều 4, Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP, hướng dẫn áp dụng BLHS 2015: "Khi cho người phạm tội hưởng án treo, Tòa án phải ấn định thời gian thử thách bằng hai lần mức hình phạt tù, nhưng không được dưới 01 năm và không được quá 05 năm".
Căn cứ vào Khoản 2, Điều 36, của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 về các trường hợp bị tạm hoãn xuất nhập cảnh: "2. Người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo trong thời gian thử thách, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự".
Như vậy, người hưởng án treo trong thời gian thử thách không được phép xuất cảnh cho đến khi hoàn thành thời gian thử thách mà không vi phạm điều kiện của án treo. Nếu trong thời gian thử thách, người này không phạm tội mới và hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ theo bản án, họ sẽ không còn bị tạm hoãn xuất cảnh và có thể thực hiện quyền xuất cảnh khi điều kiện pháp lý cho phép. Tuy nhiên, trong suốt thời gian thử thách, quyền xuất cảnh của họ bị hạn chế để đảm bảo việc thi hành án được đầy đủ và đúng quy định của pháp luật.
Trong trường hợp người đó chưa hoàn thành nghĩa vụ hoặc có vi phạm trong thời gian thử thách, thời gian tạm hoãn xuất cảnh có thể được gia hạn cho đến khi các điều kiện pháp lý được đáp ứng. Việc gia hạn này nhằm đảm bảo việc chấp hành đầy đủ bản án và quyết định của cơ quan chức năng trước khi quyền xuất cảnh của người đó được phục hồi.
| Các trường hợp nào chưa cấp giấy tờ xuất - nhập cảnh
Theo quy định tại Điều 21, Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam 2019, có một số trường hợp công dân chưa được cấp giấy tờ xuất nhập cảnh, cụ thể bao gồm: - Người chưa chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật về giấy tờ xuất nhập cảnh. Các hành vi này bao gồm: • Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật để được cấp, gia hạn, khôi phục hoặc báo mất giấy tờ xuất nhập cảnh. • Làm giả, sử dụng giấy tờ xuất nhập cảnh giả để xuất cảnh, nhập cảnh hoặc đi lại, cư trú ở nước ngoài. • Các hành vi tặng, cho, mua bán, mượn, cho mượn, thuê, cho thuê, cầm cố hoặc nhận cầm cố giấy tờ xuất nhập cảnh, hoặc hủy hoại, tẩy xóa, sửa chữa giấy tờ xuất nhập cảnh. • Sử dụng giấy tờ xuất nhập cảnh trái phép hoặc vi phạm quy định pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín hoặc thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước. • Lợi dụng việc xuất cảnh, nhập cảnh để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. • Xuất cảnh, nhập cảnh trái phép, hoặc tổ chức, giúp đỡ, chứa chấp, tạo điều kiện cho người khác xuất nhập cảnh trái phép. • Cản trở, chống đối việc cấp giấy tờ xuất nhập cảnh hoặc kiểm soát xuất nhập cảnh của cơ quan nhà nước. - Người bị tạm hoãn xuất cảnh sẽ không được cấp giấy tờ xuất nhập cảnh, trừ trường hợp đặc biệt, khi Bộ trưởng Bộ Công an đồng ý cho phép xuất cảnh mặc dù quyết định tạm hoãn vẫn còn hiệu lực. - Trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh, theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an, công dân cũng có thể bị từ chối cấp giấy tờ xuất nhập cảnh. |











