Để hai mảnh ghép "đào tạo" và "hành nghề" thực sự khớp lại với nhau, tạo ra nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao, cơ sở đào tạo luật cần thực hiện đồng bộ một loạt các giải pháp mang tính chiến lược.
Trong những năm trở lại đây, sức hút của ngành luật ngày càng gia tăng mạnh mẽ, đưa lĩnh vực này trở thành một trong những ngành học nhận được sự quan tâm rất lớn từ toàn xã hội.
Để đáp ứng nhu cầu đó, đại đa số các trường đại học hiện nay, bao gồm cả hệ thống trường công lập lẫn tư thục, đều chạy đua mở mã ngành đào tạo luật hoặc thành lập các khoa luật chuyên ngành.
Tuy nhiên, sự phát triển bùng nổ về mặt số lượng cơ sở đào tạo Luật lại đang phơi bày một thực trạng nhức nhối: Đào tạo và hành nghề luật tại Việt Nam hiện nay tựa như hai mảnh ghép khập khiễng, vẫn chưa thể khớp nối một cách hoàn chỉnh.
 |
| Luật sư Hà Trọng Đại - Giám đốc Công ty Luật TNHH Hà Trọng Đại và Cộng sự (Đoàn Luật sư TP Hà Nội). |
Thứ nhất, sự chậm nhịp của chương trình đào tạo Luật với dòng chảy của thời đại.
Hệ lụy đầu tiên và dễ nhận thấy nhất xuất phát từ chính chương trình đào tạo luật.
Nhìn chung, công tác đào tạo luật hiện nay chưa thực sự bám sát hơi thở của thực tiễn mà vẫn mang nặng tính hàn lâm, chương trình đào tạo đôi khi còn cứng nhắc, thiếu tính linh hoạt và chủ yếu dựa vào hệ thống tài liệu với được biên soạn từ nhiều năm trước.
Trong khi nền kinh tế - xã hội của quốc gia và thế giới đang chuyển mình như vũ bão, làm nảy sinh hàng loạt những quan hệ pháp luật mới và phức tạp như thương mại điện tử, tài sản số, trí tuệ nhân tạo (AI), Fintech hay các rào cản thương mại quốc tế…., thì tư duy và nội dung giảng dạy luật tại nhiều cơ sở đào tạo lại có phần chậm nhịp.
Việc chương trình đào tạo thiếu tính linh hoạt, chưa cập nhật với những đòi hỏi từ thực tiễn cùng hệ thống tài liệu lạc hậu, chưa kết nối với những kho học liệu lớn trên thế giới dễ khiến sinh viên phải tiếp thu một hệ thống kiến thức có độ trễ khá lớn so với thực tế vận hành của nền kinh tế thời đại công nghệ số.
Thứ hai, Hệ lụy từ việc đào tạo đại trà, thiếu định hướng chuyên sâu.
Bên cạnh tài liệu thiếu tính cập nhật, phương pháp đào tạo hiện nay phần lớn vẫn mang tính đại trà, thiếu sự chuyên sâu.
Quá trình học tập chủ yếu xoay quanh việc truyền thụ lý thuyết một chiều, thiếu vắng các nội dung về kỹ năng mềm, khả năng tư duy logic, tư duy phản biện, kỹ năng giải quyết vấn đề hay việc đào tạo tùy chỉnh theo năng lực, nhu cầu của từng cá nhân (vốn đã được thiết kế ở bậc đào tạo đại học tại nhiều trên quốc gia thế giới).
Chính vì thiếu sự phân loại để định hướng phù hợp, hệ quả tất yếu là sinh viên rơi vào tình trạng "học rộng nhưng không sâu".
Khi ra trường, các cử nhân luật thường không thực sự xuất sắc ở một lĩnh vực cụ thể và thiếu sự chuẩn bị để có thể tiếp tục lựa chọn theo đuổi một nghề nghiệp nhất định như luật sư tranh tụng, pháp chế doanh nghiệp hay công chứng viên….
Điều này dẫn đến một thực tế đáng buồn là nhiều cử nhân luật sau khi tốt nghiệp loay hoay trong định hướng nghề nghiệp đồng thời thiếu khả năng làm việc độc lập, chất lượng thực hành nghề thấp, gây ra sự lãng phí to lớn về thời gian, tiền bạc của người học cũng như nguồn nhân lực của toàn xã hội.
Thứ ba, Sự lệch pha giữa giảng đường và thực tiễn hành nghề
Bốn đến năm năm thanh xuân trên giảng đường đại học trôi qua, nhưng tựu trung lại, những gì sinh viên nhận được đôi khi chỉ là những lý thuyết mang tính giáo điều.
Việc thiếu đi các giờ thực hành thực chất khiến người học không thể hình dung rõ nét về công việc thực tế.
Hệ quả là một bộ phận không nhỏ sinh viên tốt nghiệp với tình trạng "tay trắng" về kỹ năng, hoàn toàn không thể tham gia vào quá trình hành nghề luật hay thực hiện các công việc pháp lý (dù là đơn giản) ngay sau khi nhận bằng cử nhân. Để giải quyết sự lệch pha này, việc tạo ra một "mảnh ghép liên thông" giữa lý thuyết và thực hành là vô cùng cấp thiết.
Thay vì tách rời, các cơ sở đào tạo cần lấy thực hành làm thước đo cho lý thuyết. Điển hình như tại các cơ sở đào tạo uy tín như Trường Đại học Luật Hà Nội hay Khoa Luật - Học viện Ngân hàng…, việc tăng cường triển khai thực hiện các hoạt động thực tế mang tính mô phỏng như: Phiên toà tập sự, Phiên tòa giả định, Phiên họp hội đồng trọng tài giả định, cuộc thi học thuật Spirit of Law; đưa các án lệ và hồ sơ vụ việc thực tế vào giảng dạy, đồng thời mời các luật sư, chuyên gia pháp lý có kinh nghiệm thực tiễn tham gia đào tạo, hướng dẫn trực tiếp đang là những bước đi vô cùng thiết thực để thu hẹp khoảng cách giữa sách vở và đời sống pháp lý.
Vậy giải pháp đồng bộ để gắn kết hai mảnh ghép trên là gì?
Để hai mảnh ghép "đào tạo" và "hành nghề" thực sự khớp lại với nhau, tạo ra nguồn nhân lực pháp lý chất lượng cao, cơ sở đào tạo luật cần thực hiện đồng bộ một loạt các giải pháp mang tính chiến lược.
Trước hết, chương trình đào tọa cần được chuẩn hóa thông qua việc cập nhật tài liệu giảng dạy thường xuyên, linh hoạt, đảm bảo bám sát mọi diễn biến và sự phát triển không ngừng của đời sống kinh tế - xã hội.
Thứ hai, việc tăng cường đầu tư ngân sách cho mảng thực hành là yếu tố sống còn.
Các trường đại học cần chủ động xây dựng các trung tâm thực hành pháp luật ngay trong khuôn viên trường, đồng thời thiết lập cơ chế liên kết, hợp tác chặt chẽ với các văn phòng luật sư, công ty luật, tòa án và doanh nghiệp để tạo ra môi trường cọ xát thực tế thường xuyên cho sinh viên.
Thứ ba, các cơ quan quản lý cần nhanh chóng hoàn thiện hành lang pháp lý về đào tạo nghề luật.
Trong đó, cần quy định rõ ràng về chuẩn đầu ra thực hành, đưa thời lượng cọ xát thực tế trở thành một phần bắt buộc trong khung chương trình đào tạo tín chỉ.
Cuối cùng, cốt lõi của việc nâng cao chất lượng vẫn nằm ở đội ngũ giảng viên. Cần có cơ chế khuyến khích giảng viên vừa tham gia công tác giảng dạy, vừa trực tiếp tham gia các hoạt động tư vấn, tranh tụng trong thực tiễn.
Từ đó, họ có thể mang chính những kinh nghiệm "thực chiến" sống động nhất truyền đạt lại cho các thế hệ học trò.
Tựu chung lại, chỉ khi nào lý thuyết và thực hành thực sự song hành, giáo dục đại học mới làm tròn được sứ mệnh cao cả của mình. Đó là không chỉ dừng lại ở việc đào tạo ra những con người "biết luật", mà phải rèn giũa nên những chuyên gia thực sự "hành nghề luật" một cách sắc bén, bản lĩnh và chuyên nghiệp.