Những quy định mới về sắp xếp thôn, tổ dân phố trên toàn quốc
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 185/2026/NĐ-CP, quy định chi tiết tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố và trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố.
Quy định tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố tại Hà Nội và TP HCM
Ở thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh: Thôn phải có từ 500 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 700 hộ gia đình trở lên. Ở vùng trung du và miền núi phía Bắc: Thôn phải có từ 150 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 300 hộ trở lên.
Ở vùng đồng bằng sông Hồng: Thôn phải có từ 400 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ gia đình trở lên. Ở vùng Bắc Trung bộ: Thôn phải có từ 350 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên.
Ở vùng duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên: Thôn phải có từ 300 hộ gia đình trở lên, tổ dân phố phải có từ 450 hộ gia đình trở lên. Ở vùng Đông Nam bộ: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên. Ở vùng đồng bằng sông Cửu Long: Thôn phải có từ 400 hộ trở lên, tổ dân phố phải có từ 550 hộ trở lên.
Đối với thôn, tổ dân phố thuộc địa bàn miền núi, xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thôn đặc biệt khó khăn, thôn ở địa bàn có địa hình chia cắt phức tạp, giao thông đi lại khó khăn, dân cư sinh sống phân tán; thôn, tổ dân phố ở địa bàn biên giới, hải đảo hoặc thuộc khu vực quy hoạch giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư; thôn, tổ dân phố nằm biệt lập trên các đảo, cù lao, cồn trên sông thì quy mô số hộ gia đình có thể thấp hơn quy định.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn cụ thể thôn, tổ dân phố trong các trường hợp đặc thù quy định tại điểm a, bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, yêu cầu quản lý địa bàn, tổ chức hoạt động của cộng đồng dân cư, tính ổn định và gắn kết cộng đồng dân cư, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

Trình tự, thủ tục, hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố
Căn cứ nguyên tắc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố; tiêu chuẩn của thôn, tổ dân phố theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trình Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét, quyết định.
Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố bằng hình thức phù hợp theo quy định của pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở; tổng hợp, tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến tham gia của Nhân dân để hoàn thiện hồ sơ trình Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, quyết định.
Hồ sơ thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố gồm:
Tờ trình của Ủy ban nhân dân cấp xã; Đề án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố, gồm các nội dung chủ yếu sau: Sự cần thiết; hiện trạng quy mô số hộ gia đình; phương án thành lập, sắp xếp, tổ chức lại; tên gọi của thôn, tổ dân phố; điều kiện bảo đảm tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố; phương án bố trí, giải quyết đối với người hoạt động không chuyên trách và các nội dung có liên quan;
Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến của Nhân dân; Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp xã.
Trên cơ sở hồ sơ do Ủy ban nhân dân cấp xã trình, Hội đồng nhân dân cấp xã xem xét, ban hành Nghị quyết về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố tại kỳ họp gần nhất.
Tại đặc khu không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Ủy ban nhân dân đặc khu tổ chức xây dựng Đề án, lấy ý kiến Nhân dân và quyết định việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố theo trình tự quy định.
Hồ sơ gồm các tài liệu quy định tại các điểm a, b và điểm c nêu trên và dự thảo Quyết định của Ủy ban nhân dân đặc khu.
Trên cơ sở hồ sơ được hoàn thiện, Ủy ban nhân dân đặc khu ban hành Quyết định về việc thành lập, sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn.
Cán bộ thôn, tổ dân phố được khoán quỹ phụ cấp hơn 20 triệu đồng/tháng từ 1/7
Cũng theo Nghị định số 185, Theo Điều 15 của Nghị định, ngân sách nhà nước thực hiện khoán quỹ phụ cấp, bao gồm cả hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội, để chi phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố.
Đối với thôn có từ 700 hộ gia đình trở lên; tổ dân phố có từ 1.000 hộ gia đình trở lên; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã trọng điểm về quốc phòng theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thôn, tổ dân phố thuộc đơn vị hành chính cấp xã ở khu vực biên giới, hải đảo; thôn đặc biệt khó khăn thì được khoán quỹ phụ cấp bằng 8 lần mức lương cơ sở.
Với mức lương cơ sở hiện hành là 2,34 triệu đồng/tháng, mức khoán quỹ phụ cấp đối với nhóm này tương đương 18,72 triệu đồng/tháng cho mỗi thôn, tổ dân phố.
Theo lộ trình tăng lương cơ sở từ ngày 1/7/2026 lên 2,53 triệu đồng/tháng, mức khoán quỹ phụ cấp tương ứng sẽ tăng lên 20,24 triệu đồng/tháng.
Đối với các thôn, tổ dân phố không thuộc các trường hợp nêu trên, mức khoán quỹ phụ cấp bằng 6,5 lần mức lương cơ sở. Theo đó, với mức lương cơ sở hiện hành 2,34 triệu đồng/tháng, mức khoán tương ứng là 15,21 triệu đồng/tháng cho mỗi thôn, tổ dân phố.
Khi áp dụng mức lương cơ sở mới 2,53 triệu đồng/tháng từ ngày 1/7/2026, mức khoán sẽ tăng lên khoảng 16,45 triệu đồng/tháng.











