Người sử dụng lao động trốn đóng bảo hiểm y tế bị phạt tới 45 triệu đồng từ 15/5/2026
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 90/2026/NĐ-CP quy định mức phạt tiền đối với hành vi trốn đóng bảo hiểm y tế, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 15/5/2026.

Theo quy định mới tại Nghị định 90/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, người sử dụng lao động sẽ bị xử lý nghiêm nếu có hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thấp hơn thực tế hoặc trốn đóng sau 60 ngày kể từ thời hạn quy định.
Các mức phạt tiền được phân cấp cụ thể dựa trên giá trị số tiền vi phạm nhằm đảm bảo tính công bằng và răn đe.
Cụ thể, với mức vi phạm dưới 5 triệu đồng, người sử dụng lao động sẽ bị phạt từ 1 đến 2 triệu đồng.
Nếu số tiền vi phạm nằm trong khoảng từ 5 triệu đến dưới 10 triệu đồng, mức phạt tăng lên từ 2 đến 3 triệu đồng.
Đối với những vi phạm lớn hơn từ 10 triệu đến dưới 20 triệu đồng, khung hình phạt dao động từ 3 đến 5 triệu đồng, và từ 5 đến 7 triệu đồng nếu vi phạm từ 20 triệu đến dưới 40 triệu đồng.
Đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng, mức phạt sẽ được đẩy lên cao hơn đáng kể.
Vi phạm từ 40 triệu đến dưới 60 triệu đồng sẽ bị phạt từ 7 đến 15 triệu đồng, trong khi mức vi phạm từ 60 triệu đến dưới 80 triệu đồng có mức phạt từ 15 đến 20 triệu đồng.
Các khung hình phạt tiếp theo lần lượt là 20 đến 25 triệu đồng cho vi phạm đến dưới 120 triệu, và 25 đến 35 triệu đồng cho vi phạm dưới 160 triệu.
Mức phạt cao nhất lên tới 45 triệu đồng sẽ được áp dụng cho các hành vi trốn đóng bảo hiểm y tế có giá trị từ 160 triệu đồng trở lên.
Về thời hạn thực hiện nghĩa vụ, pháp luật quy định ngày cuối cùng của tháng tiếp theo là hạn chót đối với phương thức đóng hằng tháng.
Đối với các đơn vị lựa chọn đóng 3 tháng hoặc 6 tháng một lần, thời hạn chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng.
Việc tuân thủ đúng mốc thời gian này là bắt buộc để tránh các chế tài pháp lý không đáng có.
Bên cạnh đó, nhóm đối tượng bắt buộc phải tham gia bảo hiểm y tế do người sử dụng lao động cùng đóng cũng được xác định rõ ràng.
Nhóm này bao gồm người lao động làm việc theo hợp đồng không xác định thời hạn hoặc có thời hạn từ đủ 1 tháng trở lên, bao gồm cả các chức danh quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên hoặc người đại diện phần vốn nhà nước có hưởng lương hoặc không hưởng lương.
Người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam từ 12 tháng trở lên, cán bộ công chức viên chức, chủ hộ kinh doanh và các đối tượng phục vụ trong quân đội, công an cùng thân nhân của họ cũng thuộc diện được bảo vệ bởi chính sách này.










