Bị can, bị cáo đang bỏ trốn sẽ bị truy tố và xét xử như thế nào?
Bạn đọc đặt câu hỏi về việc bị can, bị cáo vắng mặt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xử lý như thế nào theo quy định mới nhất hiện nay.
Mới đây, Bộ Công an và các đơn vị liên quan đã ban hành Thông tư liên tịch 05/2025 về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo.
Thông tư áp dụng đối với cơ quan điều tra thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát và Tòa án các cấp; người tiến hành tố tụng, người bào chữa, đại diện hoặc thân nhân bị can, bị cáo vắng mặt cùng các tổ chức, cá nhân liên quan.
Theo Khoản 1 Điều 4 Thông tư 05/2025, Cơ quan điều tra áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 233, Viện kiểm sát áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 243, Tòa án áp dụng quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 290 của Bộ luật Tố tụng hình sự để điều tra, truy tố, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp sau:
Bị can, bị cáo trốn hoặc không biết bị can, bị cáo ở đâu và việc truy nã không có kết quả. Bị can, bị cáo trốn là trường hợp bị can, bị cáo cố ý trốn tránh, vắng mặt, cơ quan tiến hành tố tụng không giao được giấy triệu tập cho bị can, bị cáo hoặc đã giao giấy triệu tập nhưng bị can, bị cáo không chấp hành, trình diện theo giấy triệu tập mà không vì lý do bất khả kháng, trở ngại khách quan hoặc che giấu tung tích, nơi cư trú, nơi làm việc, nơi học tập nhằm không chấp hành quyết định, yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Không biết bị can, bị cáo ở đâu là trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã tiến hành các hoạt động xác minh theo quy định pháp luật nhưng không xác định được bị can, bị cáo ở đâu.
Việc truy nã không có kết quả là trường hợp Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã bị can, bị cáo, áp dụng các biện pháp xác minh, truy bắt bị can, bị cáo nhưng đến khi hết thời hạn điều tra, hết thời hạn truy tố, hết thời hạn chuẩn bị xét xử hoặc hết thời hạn theo quy định mà bị can, bị cáo không đầu thú hoặc không bắt được bị can, bị cáo.
Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài mà không thể triệu tập để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử: Là trường hợp có căn cứ xác định bị can, bị cáo đã xuất cảnh nhưng chưa có thông tin nhập cảnh và không xác định được nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, không triệu tập, dẫn độ được bị can, bị cáo để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hoặc trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng có căn cứ xác định nơi đang sinh sống, làm việc, học tập của bị can, bị cáo ở nước ngoài, đã triệu tập, đã yêu cầu dẫn độ nhưng không thể đưa được bị can, bị cáo trở về Việt Nam để phục vụ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử.
Về điều kiện ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng và xét xử vắng mặt bị can, bị cáo, khoản 2 Điều 4 Thông tư 05/2025 nêu rõ, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể ban hành bản kết luận điều tra đề nghị truy tố, bản cáo trạng, xét xử vắng mặt bị can, bị cáo trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 4 Thông tư liên tịch này khi có đủ các điều kiện:
Đã thu thập đủ chứng cứ, tài liệu để làm rõ các vấn đề phải chứng minh trong vụ án và đủ căn cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện tội phạm bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Bên cạnh đó, nội dung Thông tư thê hiện, nguyên tắc tiến hành các hoạt động tố tụng vắng mặt phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm quyền con người, quyền bào chữa và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Việc điều tra, truy tố, xét xử chỉ thực hiện khi đủ điều kiện theo quy định, đồng thời phải khách quan, thận trọng, chặt chẽ, không để xảy ra lạm dụng.
Cụ thể, các cơ quan tố tụng được áp dụng trình tự này khi: Bị can, bị cáo trốn tránh, không rõ nơi cư trú, truy nã không có kết quả; Bị can, bị cáo đang ở nước ngoài và không thể triệu tập, dẫn độ về Việt Nam để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử.
Để được truy tố, xét xử vắng mặt, các cơ quan tố tụng phải thu thập đủ chứng cứ xác định bị can, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội và đảm bảo việc chỉ định hoặc mời luật sư bào chữa theo đúng quy định pháp luật.
Bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo vắng mặt theo quy định tại các điều 16, 291, 351 và Chương V của Bộ luật Tố tụng hình sự…
Trường hợp bị can, bị cáo vắng mặt không có người bào chữa, cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự.











