Xuất khẩu nông lâm thủy sản quý I năm 2026 đạt 16,69 tỷ USD
Theo đó, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tháng 3/2026 ước đạt 6,02 tỷ USD, tăng mạnh 47,8% so với tháng trước.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, so với cùng kỳ năm 2025, con số này vẫn giảm nhẹ 1,5%, cho thấy thị trường chưa thực sự ổn định. Tính chung quý I-2026, tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt 16,69 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm nông sản tiếp tục giữ vai trò chủ lực với giá trị xuất khẩu đạt 8,93 tỷ USD, tăng 4,1%.
Đáng chú ý, lĩnh vực chăn nuôi ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất khi đạt 197,7 triệu USD, tăng tới 54,3%, cho thấy những cải thiện đáng kể về năng lực cạnh tranh và khả năng mở rộng thị trường.

Ngành thủy sản duy trì đà tăng trưởng tích cực với kim ngạch đạt 2,62 tỷ USD, tăng 13,3%. Trong khi đó lâm sản đạt 4,11 tỷ USD, giảm 2,4%, phản ánh những khó khăn của ngành gỗ khi nhu cầu tại một số thị trường lớn suy giảm.
Các nhóm hàng đầu vào sản xuất và muối tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, nhưng có tốc độ tăng trưởng cao, lần lượt đạt 834,3 triệu USD và 3,3 triệu USD, tăng tương ứng 56,7% và 31,7%.
Châu Á tiếp tục là điểm đến lớn nhất của nông lâm thủy sản Việt Nam, chiếm 45,1% tổng thị phần và tăng trưởng 15,3% trong quý I. Đây là khu vực có lợi thế về địa lý và nhu cầu tiêu thụ ổn định. Trong khi đó, xuất khẩu sang châu Mỹ chiếm 20,7%, nhưng giảm 3,4%, còn châu Âu chiếm 16,2% và tăng nhẹ 4,8%. Hai khu vực có quy mô nhỏ hơn là châu Phi và châu Đại Dương ghi nhận biến động mạnh, với mức giảm 29% tại châu Phi và tăng 20,1% tại châu Đại Dương.
Về xuất khẩu rau quả thị trường Trung Quốc tiếp tục là thị trường chủ lực, chiếm tới 54% tổng giá trị xuất khẩu mặt hàng này, với mức tăng trưởng ấn tượng 76,2%. Các thị trường khác như Mỹ và Hàn Quốc cũng ghi nhận mức tăng lần lượt 21,4% và 4,1%.
Đặc biệt, xuất khẩu rau quả sang Campuchia tăng tới 3,7 lần, trong khi thị trường Thái Lan lại giảm mạnh 28,1%. Bên cạnh đó, mặt hàng hạt tiêu cũng ghi nhận kết quả tích cực với sản lượng xuất khẩu đạt 64,6 nghìn tấn và giá trị đạt 417,5 triệu USD, tăng lần lượt 36,8% và 28,8%. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân giảm 5,9% cho thấy áp lực cạnh tranh vẫn hiện hữu.
Trái ngược với xu hướng tăng trưởng của một số mặt hàng, cà phê, gạo và cao su lại chịu tác động từ việc giá xuất khẩu giảm. Trong quý I-2026, xuất khẩu cà phê đạt 577,3 nghìn tấn, tăng 12,6% về khối lượng, nhưng giá trị chỉ đạt 2,71 tỷ USD, giảm 6,4%. Nguyên nhân chủ yếu là do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh 16,9%. Điều này phản ánh áp lực giảm giá trên thị trường thế giới, dù nhu cầu tiêu thụ không suy giảm đáng kể.














