Vụ “dựng chuyện ký quỹ để chiếm đoạt 3 tỷ đồng”: Đừng để sót lọt tội phạm
Lợi dụng việc hạn chế về pháp luật của một doanh nhân người nước ngoài, hai đối tượng dựng chuyện không có thật nhằm mục đích chiếm đoạt số tiền 3 tỷ đồng rồi tránh mặt. Hiện một người đã bỏ đi khỏi nơi cư trú, đối tượng còn lại vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật khiến nạn nhân bức xúc.
Quảng Bình: Thông tin mới về vụ nhân viên ngân hàng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản
Tạm giữ nhân viên ngân hàng BIDV nghi lừa đảo, chiếm đoạt gần 15 tỉ đồng
Lợi dụng đại dịch Covid-19 nhóm đối tượng lừa đảo 7.000 người, chiếm đoạt 23 tỷ đồng
Xét xử nữ Giám đốc lừa đảo, thao túng thị trường chứng khoán
Văn phòng cơ quan điều tra (CQĐT) – Bộ Công an vừa có thông báo chuyển đơn khiếu nại của ông M.H.Kh. (quốc tịch Đài Loan, ngụ quận 2) đến Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân TP HCM để xem xét, giải quyết theo thẩm quyền. Theo đơn, ông K. khiếu nại Quyết định (QĐ) số 72 của Văn phòng CQĐT (PC01) Công an TP HCM về việc hủy QĐ khởi tố vụ án liên quan đơn tố giác tội phạm của ông.

Bà Phượng đã đóng cửa Văn phòng và bỏ đi khỏi địa phương
Trong đơn gửi cơ quan chức năng cũng như Báo Pháp Luật Việt Nam, ông K. trình bày: Cách đây 4 năm, vợ chồng ông bị một người con riêng tranh chấp tài sản là căn nhà tọa lạc tại quận 2. Trong vụ án dân sự này, ông K. tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Vào tháng 1/2014, vợ chồng ông K. nhận được Quyết định “biện pháp khẩn cấp tạm thời” của TAND quận 2 về việc ngăn chặn chuyển nhượng, sang tên quyền sở hữu… đối với căn nhà trên. Do hạn chế về pháp luật nên ông K. cần người đại diện tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho vợ chồng mình.
Qua các mối quan hệ, ông K. quen Nguyễn Thanh Bình (SN 1977, ngụ chung cư Phan Xích Long, Phường 7, quận Phú Nhuận), xưng là thư ký của luật sư Trần Thị Bích Phượng. Vào thời điểm trên, bà Phượng là Trưởng văn phòng luật sư “Hoa & Cộng sự” (số 188 Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, quận 1).
Ngày 8/9/2014, ông K. đến Văn phòng luật sư “Hoa & Cộng sự” ký “Hợp đồng dịch vụ pháp lý” với người đại diện là Trần Thị Bích Phượng. Nội dung hợp đồng, Bên A (bà Phượng) đại diện tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông K., với chi phí 300 triệu đồng. Ngoài việc đã thanh toán đủ số tiền thù lao cho bà Phượng, Bên B (ông K.) còn đưa luôn 1 tỷ đồng tiền trích thưởng. Riêng khoản tiền này, Nguyễn Thanh Bình trực tiếp đứng ra ký nhận.
Đến trung tuần tháng 1/2015, Bình kêu ông K. đưa tiếp 3 tỷ đồng. Lần này, anh ta nói dùng để “ký quỹ” nhằm hủy bỏ Quyết định “biện pháp khẩn cấp tạm thời” theo yêu cầu của tòa án quận 2.
Tưởng thật, ngày 14/1, ông K. chuyển đủ số tiền theo yêu cầu vào tài khoản của Nguyễn Thanh Bình. Sau khi nhận tiền được 2 tháng, Bình viết giấy cam kết từ ngày 3/3 đến 31/3/2015 sẽ có văn bản hủy bỏ Quyết định “biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Nếu không có văn bản này của tòa, anh ta sẽ trả lại khoản tiền trên. Bên cạnh đó, bà Trần Thị Bích Phượng cũng hứa sẽ có trách nhiệm đôn đốc Bình thực hiện đúng cam kết. Sau đó, Bình không thực hiện đúng lời hứa và cũng không trả lại tiền đồng thời tránh mặt, còn bà Phượng đã bỏ đi đâu không rõ.
Sau khi phát giác bị lừa vì tòa án không hề yêu cầu bị đơn lẫn người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp tiền “ký quỹ”, đồng thời pháp luật cũng không có quy định này, tháng 6/2019, ông K. gửi đơn tố giác Nguyễn Thanh Bình và Trần Thị Bích Phượng đến PC01 Công an TP HCM.
Ngày 8/1/2020, PC01 ra QĐ khởi tố vụ án hình sự với hành vi “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” để điều tra, làm rõ. Hơn 5 tháng chờ đợi, ngày 25/6/2020, ông K. nhận được thông báo của PC01 về việc hủy bỏ QĐ khởi tố vụ án nói trên. CQĐT cho rằng hành vi của Bình và Phượng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, chỉ là quan hệ dân sự.

Giấy nhận tiền và cam kết của Bình – Phượng.
Theo luật sư Trần Đình Dũng thuộc Đoàn luật sư TP HCM, nhận định: Việc bịa ra một khoản phải nộp tiền ký quỹ vào cơ quan nhà nước, nhưng trên thực tế không có khoản nộp này và đồng thơi pháp luật cũng không có bất kỳ qui định nào về khoản nộp, nhằm chiếm đoạt tài sản là có dấu hiệu cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, được qui định tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 (Điều 139 Bộ luật hình sự 1999).
Trong trường hợp này, việc huỷ bỏ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là do toà án thực hiện khi có các yếu tố qui định của pháp luật, không có qui định nào cho việc đóng tiền ký quĩ để toà án huỷ bỏ quyết định. Đây là “thủ tục bịa đặt” ra nhằm chiếm đoạt tiền của phía bị hại, nhằm làm cho bị hại tin tưởng có thật khoản ký quĩ phải nộp để giao tiền. Sau khi nhận tiền xong, người chiếm đoạt đã tránh mặt không trả lại tiền. Rõ ràng hành vi này cần phải xử lý nghiêm, cơ quan điều tra cần nhanh chóng khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. Đối với việc chưa truy tìm được người có vai trò giúp sức do họ bỏ đi đâu không rõ, không phải là lý do không khởi tố vụ án. Nếu chưa truy tìm được người giúp sức, khi điều tra nếu có dấu hiệu đồng phạm thì CQĐT ra lệnh truy nã và xử lý sau khi bắt được. Cho nên trong trường hợp xử lý người chiếm đoạt tài sản, không thể bị dừng lại do không tìm kiếm được người liên quan là bà luật sư Trần Thị Bích Phượng.
Tôi cũng lưu ý, hiện nhiều người khi có sự việc liên quan đến pháp lý đã không tìm tới luật sư hay các trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước để nhờ giúp đỡ, mà gặp những “cò” mồi như trường hợp này sẽ dễ dẫn đến tiền mất tật mang do bị lừa đảo.
Quan điểm của luật sư Trần Đình Dũng được nhiều người am hiểu pháp luật đồng tình. Vì vậy, Báo Pháp Luật Việt Nam đề nghị các cơ quan tố tụng cần xem xét lại vụ việc nhằm tránh sót lọt tội phạm.











