Quy định mới về tiêu chuẩn phân loại đơn vị hành chính
Sau đợt sáp nhập, sắp xếp các đơn vị hành chính năm 2025 làm thay đổi căn bản quy mô địa bàn và dân số tại nhiều địa phương, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 307/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 27/11/2025, quy định mới về phân loại đơn vị hành chính.

Theo quy định mới, về loại đơn vị hành chính, thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là đơn vị hành chính cấp tỉnh loại đặc biệt, trong khi các thành phố trực thuộc trung ương còn lại là đơn vị hành chính cấp tỉnh loại I. Cấp tỉnh được phân thành ba loại là loại I, loại II và loại III. Cấp xã cũng được phân thành ba loại: loại I, loại II và loại III. Riêng cấp phường và đặc khu được phân thành bốn loại: loại đặc biệt, loại I, loại II và loại III.
Việc phân loại đơn vị hành chính được thực hiện bằng phương pháp tính điểm. Điểm phân loại là tổng số điểm đạt được của bốn tiêu chí phân loại, tối đa là 100 điểm, cộng thêm điểm ưu tiên nếu có. Bốn tiêu chí phân loại đơn vị hành chính bao gồm: Quy mô dân số, diện tích tự nhiên, điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, và tiêu chí đặc thù. Điểm của từng tiêu chí được làm tròn đến hai chữ số thập phân.
Căn cứ vào tổng điểm, đơn vị hành chính sẽ được phân loại như sau: Phường, đặc khu được phân loại đặc biệt khi có tổng số điểm đạt được từ 90 điểm trở lên (không bao gồm điểm ưu tiên), đồng thời có quy mô dân số và diện tích tự nhiên lớn, đáp ứng tiêu chí ưu tiên theo quy định.
Đơn vị hành chính được phân loại I khi có tổng số điểm đạt được từ 75 điểm trở lên, trừ trường hợp phường, đặc khu được phân loại đặc biệt. Đơn vị hành chính được phân loại II khi có tổng số điểm đạt được từ 60 điểm đến dưới 75 điểm. Đơn vị hành chính đạt dưới 60 điểm thì được phân loại III. Nghị định cũng nêu rõ trường hợp tiêu chí đạt ở mức được tính điểm tăng thêm, điểm tăng thêm sẽ được tính theo tỷ lệ phần trăm của mức chênh lệch so với mức được tính điểm tăng thêm của tiêu chí đó.
Cụ thể đối với đơn vị hành chính tỉnh, tiêu chí phân loại và cách tính điểm được quy định chi tiết: Tiêu chí về Quy mô dân số (tối đa 25 điểm) được tính cho tỉnh từ 2.000.000 người trở xuống là 10 điểm, cứ thêm 60.000 người được tính thêm 0,5 điểm; tỉnh miền núi áp dụng mức 75% quy định này. Tiêu chí về Diện tích tự nhiên (tối đa 25 điểm) được tính cho tỉnh từ 8.000 km2 trở xuống là 10 điểm, cứ thêm 200 km2 được tính thêm 0,5 điểm.
Tiêu chí Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội có nhiều chỉ số, được tính điểm tối đa 33 điểm: bao gồm tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách trung ương (tối đa 10 điểm), hoặc số thu ngân sách địa phương được hưởng theo phân cấp (tối đa 8 điểm) trong trường hợp không có tỷ lệ điều tiết; tỷ trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế (tối đa 3 điểm);
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (tối đa 3 điểm); tỷ lệ lao động phi nông nghiệp (tối đa 3 điểm); tốc độ tăng năng suất lao động bình quân (tối đa 3 điểm); thu nhập bình quân đầu người (tối đa 3 điểm); tỷ lệ lực lượng lao động trong độ tuổi tham gia bảo hiểm xã hội (tối đa 3 điểm);
Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều (tối đa 3 điểm); tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch đáp ứng quy chuẩn (tối đa 3 điểm); Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan nhà nước cấp tỉnh (tối đa 3 điểm); và tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được xử lý qua dịch vụ công trực tuyến toàn trình (tối đa 3 điểm).
Cuối cùng, tiêu chí Các yếu tố đặc thù (tối đa 11 điểm) bao gồm tỷ lệ dân số là người dân tộc thiểu số (tối đa 2 điểm); tỷ lệ đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc có đường biên giới quốc gia trên đất liền (tối đa 2 điểm); có di tích quốc gia đặc biệt hoặc có di sản được UNESCO công nhận, ghi danh (1 điểm); và số lượng đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc (tối đa 5 điểm).
Về thẩm quyền quyết định phân loại, Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định công nhận phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và phường, đặc khu loại đặc biệt. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định phân loại đơn vị hành chính cấp xã, trừ các trường hợp do Bộ Nội vụ quyết định.











