Ký ức xúc động của người lính tình báo Tư Cang
Chiến tranh đã trôi qua nhiều năm, nhưng những ký ức hào hùng về một thời đấu tranh giành độc lập cho đất nước vẫn luôn sống mãi trong lòng của người lính tình báo như mới hôm qua.
Bình Phước: Khởi công xây dựng 5km đường giao thông chào mừng 46 năm Giải phóng miền Nam
Bà Rịa - Vũng Tàu: Giao lưu văn nghệ chào mừng kỷ niệm Giải phóng miền Nam
Lễ Kỷ niệm 45 năm Ngày Giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước
Những bài học kinh nghiệm từ Quân giải phóng miền Nam Việt Nam
Đại tá Nguyễn Văn Tàu (93 tuổi, quê Bà Rịa - Vũng Tàu), bí danh Tư Cang, vốn là một sĩ quan tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Tham gia cách mạng từ năm 1946, ông Tư Cang không chỉ có vốn kiến thức sâu rộng, mà còn thể hiện là người có nhiều tố chất phù hợp với hoạt động tình báo.

Đại tá Nguyễn Văn Tàu và ảnh chụp lúc trẻ của mình.
Ngoài chỉ huy cụm tình báo H63, ông còn là Chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động, mở đường tiến đánh Sài Gòn trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Tuy không còn nhanh nhẹn, nhưng Đại tá Tư Cang vẫn rất minh mẫn nhớ như in ngày tháng những sự kiện diễn ra và tên từng người đồng đội của mình.
Ông cho biết, cụm tình báo H63 là mạng lưới tình báo hậu thuẫn cho hoạt động của điệp viên Phạm Xuân Ẩn, người về sau được công chúng biết đến như một “Điệp viên hoàn hảo”, H63 có tất cả 45 người thì 27 người đã hy sinh để bảo vệ mạng lưới tình báo chiến lược.
Năm 1974, trước tình hình thay đổi nhanh cục diện trên chiến trường miền Nam, Tư lệnh Trần Văn Trà ký quyết định thành lập Lữ đoàn đặc công – biệt động 316, với Bộ chỉ huy lữ đoàn và 17 đơn vị chiến đấu. Những mục tiêu Lữ đoàn 316 đảm nhận đều là những mục tiêu chiến lược: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu, Tổng Nha cảnh sát, Bộ tư lệnh biệt khu thủ đô, dinh Tổng thống VNCH, căn cứ hải quân, cảng Bạch Đằng, trại Phù Đổng (căn cứ thiết giáp), căn cứ Cổ Loa,… Tất cả chỉ huy của lữ 316 đều là những cán bộ đã trải qua nhiều năm tháng chiến đấu, thông thuộc địa bàn.
“Trận Cầu Rạch chiếc là trận mở màn để giữ đường cho quân ta tiến vào giải phóng Sài Gòn. 52 người đã nằm lại mãi mãi ở vùng đất đó, có người thi thể không còn nguyên vẹn, có người bị hành hạ đến chết, xác vứt ven đường”, Đại tá Tư Cang chua xót.
Dù 46 năm đã trôi qua, ông Tư Cang vẫn đau đáu về những người đồng đội của mình đã nằm lại. Những vùng đất ông đã đi qua, những con người mà ông đã gặp đều để lại cho ông những kỷ niệm khó quên.
“Không có sự giúp đỡ và bảo vệ của dân thì làm sao chúng tôi bám trụ được chiến trường ác liệt Củ Chi. Đánh hơi được khu vực có một phân đội nhỏ Việt Cộng sống trong địa đạo, hầm bí mật, cứ đêm lên mặt đất dùng máy vô tuyến điện phát tín hiệu Mores dội vào máy thu của chúng nên chúng huy động một đội xe ủi đất đến triệt phá địa hình tìm nắp hầm bí mật.
Chúng tôi chỉ còn cách nhờ người dân đậy nắp hầm dùm, cô chủ nhà chất phác hiền lành đã làm đúng lời dặn ấy nên tôi và anh em đội võ trang đã thoát hiểm. Dù giặc kiểm soát gắt gao nhưng các mẹ, các chị luôn chuẩn bị sẵn gạo, thực phẩm cho chúng tôi mang về”, ông kể.
Ông luôn dùng ngữ điệu trìu mến dành cho đồng đội của mình, Thiếu tướng tình báo Phạm Xuân Ẩn, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phục vụ cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, người được mọi người biết đến là một “Điệp viên hoàn hảo”. Ngày ông Phạm Xuân Ẩn mất, ông Tư Cang đã làm một bài thơ tiễn người bạn chiến đấu cùng vượt qua bao lần sinh tử về cõi vĩnh hằng.
Hay những nữ cán bộ trong Cụm Tình báo H63, đơn vị Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ông nhớ tên từng người như điệp viên Nguyễn Thị Yên Thảo (tự Tám Thảo), cô Nguyễn Thị Ánh, cô Hà Thị Kiên, cô Nguyễn Thị Ba.
“Công tác tình báo trong Sài Gòn rất cần đến phụ nữ. Chị em đi lại khá dễ dàng trong vùng giặc kiểm soát, có người là điệp viên chui sâu trong các cơ quan tối mật của địch để thu thập tài liệu, tin tức nhưng số đông chị em làm công tác giao thông liên lạc để nói đường dây từ ấp chiến lược vào Sài Gòn và ngược lại. Cụm Tình báo H63 có 16 người nữ, may mắn là từ ngày thành lập cho đến ngày kết thúc chiến tranh không ai bị lộ, bị giặc bắt ngày nào”, ông kể tiếp.
Năm 1980, tuy về hưu với tỷ lệ thương binh 2/4, mất sức 61%, nhưng Đại tá Tư Cang vẫn tham gia làm công tác đảng tại địa phương, tham gia làm kinh tế cho lực lượng thanh niên xung phong Thành phố với chức vụ “Tổ trưởng Tổ bột giấy”… ngoài ra ông Tư Cang còn viết sách, báo với nhiều tác phẩm tiêu biểu và giao lưu và trò chuyện về cuộc đời kháng chiến, sự nghiệp tình báo và những tác phẩm của mình với mọi người.

Ông Tư Cang còn là một nhà văn, viết sách với nhiều tác phẩm chiến trường.
Sau ngày giải phóng, ông đã ghi lại cảm xúc sâu lắng của “Trái tim người lính” hay “Sài Gòn Mậu Thân 1968”.
Gần nhất là quyển “Tình báo kể chuyện”, kể về chuyện vui buồn, nguy hiểm trong cuộc đời làm tình báo của mình và những người đồng đội cùng thời.
Quyển sách “Nước mắt ngày gặp mặt” kể về câu chuyện cảm động của ông và vợ mình là bà Trần Ngọc Ánh từ những ngày đầu mới cưới nhau, sau đó vì chiến tranh mà chia cách hơn 30 năm. Ngày ông đi, bà mới mang thai, lúc tương phùng tóc đã điểm bạc, con gái đã 28 tuổi. Dù hiện tại, bà Ánh đã mất, nhưng bà vẫn luôn sống mãi trong lòng ông Tư Cang, người dành cả đời để yêu một người phụ nữ, người luôn dành ngữ điệu dịu dàng yêu thương khi nhắc về vợ mình.











