Khi tiếng Dao trở thành mạch nguồn, sức mạnh của Đảng - Bài 3: Nói tiếng của dân, gần lòng dân
Sau sáp nhập, Quảng Tân, TP Quảng Ninh mở rộng không gian quản lý, đa dạng cộng đồng dân cư. Để chủ trương đến được với từng thôn, bản, cán bộ không chỉ cần nói tiếng của dân, mà còn phải hiểu văn hóa, lắng nghe và gần dân bằng việc làm cụ thể.
Từ trung tâm xã Quảng Tân đi về các thôn, bản, những con đường nối các khu dân cư sau sắp xếp đơn vị hành chính đang ngày càng thuận lợi hơn. Nhưng với một địa bàn rộng tới hơn 185 km², có 14 thôn, bản, dân số trên 18.000 người và 13 dân tộc cùng sinh sống, khoảng cách địa lý vẫn là một chuyện, còn khoảng cách trong giao tiếp, trong cách hiểu và cách nắm bắt tâm tư của người dân lại là câu chuyện khác.

Quảng Tân được thành lập trên cơ sở sáp nhập Quảng Tân, Dực Yên, Quảng Lâm và Quảng An từ ngày 1/7/2025. Trong cộng đồng dân cư mới, đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 58% dân số, riêng người Dao có 7.828 người, chiếm 43,34%.
Một xã mới với không gian rộng hơn, dân cư đa dạng hơn cũng đặt ra yêu cầu rõ hơn đối với đội ngũ cán bộ cơ sở: muốn công việc đi vào cuộc sống, trước hết phải hiểu nơi mình đến, hiểu người mình gặp và biết cách nói sao để người dân thấy gần gũi, dễ chia sẻ.

Ông Đào Biên Thùy, Bí thư Đảng ủy xã Quảng Tân nhìn nhận việc cán bộ biết tiếng dân tộc trên địa bàn không đơn thuần là câu chuyện giữ gìn một ngôn ngữ hay thêm một kỹ năng giao tiếp.
Ở những thôn, bản có đông đồng bào Dao sinh sống, nhất là khi cán bộ xuống cơ sở trực tiếp tuyên truyền, vận động, giải thích chủ trương hoặc nắm bắt tâm tư, việc biết tiếng Dao giúp cuộc trao đổi tự nhiên hơn.
Có những điều người dân chưa quen diễn đạt bằng tiếng phổ thông, hoặc những người lớn tuổi vẫn cảm thấy thoải mái hơn khi được trò chuyện bằng tiếng mẹ đẻ.
Cán bộ biết tiếng, vì thế, có thêm một cách để lắng nghe. Quan trọng hơn, qua ngôn ngữ, cán bộ có thể hiểu thêm cách xưng hô, phong tục, tập quán và những quy ước trong đời sống cộng đồng để lựa chọn cách tiếp cận phù hợp.
Nhưng ở Quảng Tân, câu chuyện gần dân không được nhìn đơn giản là học thêm một thứ tiếng rồi coi đó như chiếc chìa khóa có thể mở mọi cánh cửa.

Ông Đào Biên Thùy cho rằng, ngôn ngữ phải đi cùng sự hiểu biết về phong tục, tập quán, sự tôn trọng và trách nhiệm trong công việc.
Nếu cán bộ nói được tiếng Dao nhưng xuống thôn bản không nắm được việc, không giải quyết được những vấn đề người dân quan tâm thì việc biết tiếng cũng khó tạo ra giá trị thực tế.
Sau sáp nhập, Đảng bộ xã Quảng Tân hiện có 25 tổ chức cơ sở đảng với 881 đảng viên, trong đó có 263 đảng viên là người dân tộc thiểu số, riêng người Dao có 179 đồng chí.
Ở các thôn, bản, có 6 bí thư chi bộ và 6 trưởng thôn là người dân tộc thiểu số; đội ngũ cán bộ, công chức người dân tộc thiểu số có 10 người.
Ở Thanh Lâm, Lý Sáy, Thanh Bình, Nà Cáng, Nà Pá, Lỷ A Cỏong hay An Sơn, cán bộ xuống thôn không chỉ để truyền đạt chủ trương mà còn để nghe dân nói.
Một cuộc họp có thể bắt đầu từ chuyện sản xuất, đất đai, đời sống, nhưng điều giữ người dân ở lại với cuộc trò chuyện đôi khi chỉ là cách cán bộ biết lắng nghe, biết hỏi và, khi cần, có thể nói với dân bằng chính tiếng của họ.

Ở thôn An Sơn, câu chuyện ấy hiện lên từ những cuộc gặp rất đời thường. Bà Tằng Si Múi, một người dân trong thôn, bảo rằng trước đây mỗi khi cán bộ xuống họp, những người lớn tuổi như bà thường nghe nhiều hơn nói.
Không phải vì không có điều muốn nói, mà bởi có những chuyện nếu được trao đổi bằng tiếng Dao thì dễ bộc bạch hơn.
“Cán bộ biết tiếng Dao thì thấy gần hơn, có khi chỉ vài câu hỏi thăm bằng tiếng Dao thôi cũng thấy cán bộ hiểu mình, mình cũng dễ nói chuyện hơn.
Có việc của gia đình, của thôn, mình cứ nói thật thì cán bộ mới biết để giải quyết”, bà Múi chia sẻ. Ở thôn Lỷ A Cỏong, ông Lỷ A Thủ lại nhìn việc cán bộ học tiếng Dao từ một góc khác.
Theo ông, điều người dân cảm nhận rõ nhất không nằm ở việc cán bộ nói được nhiều hay ít tiếng Dao, mà ở sự chủ động tìm hiểu văn hóa và cách ứng xử của đồng bào.

“Khi cán bộ biết chào hỏi, biết cách xưng hô và nói được một vài câu tiếng Dao, người dân dễ mở lòng hơn. Nhất là với những người lớn tuổi, có khi cán bộ hỏi đúng cách thì bà con mới kể hết những điều mình còn băn khoăn, vướng mắc”, ông Thủ chia sẻ.
Câu chuyện từ người dân cho thấy, ngôn ngữ chỉ là cánh cửa đầu tiên để cán bộ bước vào đời sống cộng đồng.
Điều giữ người dân ở lại với cuộc trò chuyện không phải là cán bộ nói được bao nhiêu câu tiếng Dao, mà là sau khi nghe, cán bộ có nhớ việc dân nói, có trở lại và có cùng dân tháo gỡ những khó khăn hay không.
Ở những địa bàn đông đồng bào dân tộc thiểu số, biết tiếng Dao vì thế không chỉ thuận lợi cho giao tiếp. Đó còn là cách cán bộ hiểu thêm phong tục, cách nghĩ và tâm tư của người dân.
Từ những câu chuyện tưởng nhỏ ấy, sự gần gũi được tạo dựng, để chủ trương khi đến thôn bản không còn là lời nói xa lạ mà trở thành việc chung của cộng đồng. Vì vậy, Quảng Tân xác định việc học tiếng dân tộc phải gắn với công việc thực tế, với từng địa bàn và từng người dân.

Theo Bí thư Đảng ủy xã Đào Biên Thùy, không nên đặt nặng chuyện học để có chứng chỉ, mà quan trọng là xác định đúng đối tượng, đúng vị trí công tác và đúng nhu cầu sử dụng.
Nội dung cũng cần thiên về những tình huống giao tiếp thường ngày, kỹ năng nghe, nói, những cách ứng xử trong cộng đồng cùng những hiểu biết cơ bản về phong tục, tập quán.
Một câu chào đúng, một cách xưng hô đúng hay khả năng hiểu được điều người dân đang trao đổi trong một cuộc gặp ở thôn bản đôi khi có ý nghĩa thiết thực hơn nhiều so với việc học thuộc một lượng kiến thức nhưng sau đó không sử dụng trong công việc.

Thực tế ở Quảng Tân cho thấy, việc xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân cũng không thể chỉ đặt lên vai những cán bộ người dân tộc thiểu số.
Địa bàn mới được hình thành từ bốn đơn vị hành chính cũ, cộng đồng dân cư có nhiều thành phần, nên mỗi cán bộ, đảng viên đều phải chủ động thích ứng với không gian công tác mới.
Người Kinh làm việc ở địa bàn đông người Dao càng cần tìm hiểu văn hóa, tập quán và ngôn ngữ của đồng bào.
Ngược lại, cán bộ người dân tộc thiểu số cũng cần phát huy vai trò của mình trong hệ thống chính trị, chủ động tham gia công việc chung và trở thành cầu nối tự nhiên giữa tổ chức Đảng, chính quyền với cộng đồng nơi mình sinh sống.
Cùng với đội ngũ cán bộ hiện có, lực lượng trẻ cũng đang được Quảng Tân xác định là nguồn bổ sung quan trọng cho tổ chức Đảng ở cơ sở. Đoàn Thanh niên xã hiện có 865 đoàn viên, khoảng 70% là người dân tộc thiểu số, trong đó có 348 đoàn viên người Dao.
Năm 2026, có 16 đoàn viên ưu tú được kết nạp Đảng. Đây không chỉ là những con số về tổ chức và phát triển đảng viên, mà còn đặt ra yêu cầu về việc tiếp tục tạo môi trường để lớp trẻ người dân tộc thiểu số được rèn luyện, trưởng thành và tham gia nhiều hơn vào công việc của cộng đồng.
Khi những người trẻ am hiểu địa bàn, nói được tiếng của đồng bào, có kiến thức và được rèn luyện qua thực tiễn tham gia công tác, địa phương sẽ có thêm một lực lượng cán bộ kế cận ngay từ cơ sở.

Sau sáp nhập, Quảng Tân đang đứng trước một quá trình điều chỉnh không chỉ về địa giới mà cả cách tổ chức công việc. 4 địa bàn cũ được đặt trong một không gian quản lý mới, các mối quan hệ dân cư, tổ chức và phương thức điều hành cũng cần thời gian để thích ứng.
Trong hoàn cảnh ấy, sự gần gũi của cán bộ với người dân càng có ý nghĩa. Một cán bộ thường xuyên xuống cơ sở sẽ nhìn thấy những thay đổi mà báo cáo chưa chắc phản ánh hết; một người biết lắng nghe sẽ nhận ra những băn khoăn trước khi chúng trở thành vấn đề lớn; một người hiểu phong tục sẽ biết cách lựa chọn thời điểm và cách nói phù hợp để vận động người dân cùng tham gia công việc chung.
Với Quảng Tân, xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân vì thế đang được bắt đầu từ những việc rất cụ thể. Đó là phát huy cán bộ người dân tộc thiểu số, quan tâm đào tạo nguồn cán bộ trẻ, khuyến khích cán bộ học tiếng Dao, tìm hiểu phong tục, tăng cường tiếp xúc trực tiếp với các thôn, bản và tổ chức công việc theo hướng mỗi địa bàn đều có người nắm chắc tình hình.
Những việc ấy không tạo ra kết quả trong một sớm một chiều, nhưng lại là nền tảng để bộ máy sau sáp nhập thực sự vận hành sát với đời sống dân cư.

Trên những con đường nối từ trung tâm Quảng Tân về các thôn, bản, khoảng cách địa lý đang dần được rút ngắn bởi hạ tầng và phương thức tổ chức mới. Nhưng khoảng cách giữa cán bộ với người dân không thể đo bằng cây số.
Khoảng cách ấy chỉ được thu hẹp bằng những lần cán bộ xuống cơ sở, bằng một câu hỏi đúng lúc, một lần lắng nghe thật lòng và quan trọng hơn là bằng việc trở lại với dân sau mỗi lần đã hứa.
Với người dân, một câu tiếng Dao có thể khiến cuộc trò chuyện bắt đầu tự nhiên hơn. Nhưng sự tin cậy không đến từ vài câu nói.
Nó được bồi đắp qua từng việc làm, từng lần cán bộ nhớ điều dân nói, hiểu điều dân cần và cùng dân tháo gỡ những khó khăn trong cuộc sống.
Ở Quảng Tân, hành trình xây dựng đội ngũ cán bộ gần dân vì thế không chỉ là câu chuyện học một ngôn ngữ. Đó là quá trình học cách lắng nghe, học cách tôn trọng văn hóa, học cách bước vào đời sống của đồng bào bằng sự chân thành và trách nhiệm.
Có thể bắt đầu từ một câu tiếng Dao, nhưng để đi đến lòng dân thì phải bằng việc làm.
Và khi cán bộ nói được tiếng của dân, hiểu văn hóa của dân, lắng nghe dân rồi trở lại với dân bằng kết quả cụ thể, tiếng nói ấy không còn đơn thuần là ngôn ngữ giao tiếp, mà trở thành một mạch nối để chủ trương của Đảng đến gần hơn với cuộc sống, để sức mạnh từ lòng dân tiếp tục được khơi dậy từ chính những thôn, bản nơi cơ sở./.
Bài 4: Từ lòng dân, khơi dậy sức mạnh nội sinh












