Hành vi đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp sai quy định tại Hà Nội giảm thiểu đáng kể
Sau hơn 5 năm thực hiện, Chỉ thị số 15/CT-UBND của UBND TP Hà Nội về tình trạng đốt rơm rạ, phụ phẩm nông nghiệp và chất thải khác không đúng quy định đã được giảm thiểu đáng kể.

Theo thống kê của Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội, trung bình mỗi năm, các địa phương trên địa bàn thành phố canh tác khoảng 170.000ha lúa. Hoạt động này làm phát sinh tương ứng gần 830.000 tấn rơm rạ.
Đã có giai đoạn, phương thức xử lý bằng cách đốt là một giải pháp phổ biến được sử dụng để xử lý rơm rạ sau thu hoạch. Tuy nhiên đến nay, Hà Nội đã giảm thiểu đáng kể tình trạng trên thông qua nhiều giải pháp đồng bộ.
Người dân dần chuyển sang sử dụng rơm rạ vào các mục đích khác như: Làm nguyên liệu trồng nấm, làm thức ăn chăn nuôi gia súc, sản xuất phân hữu cơ… Mặc dù vậy, tình trạng người dân đốt rơm rạ sau thu hoạch những vụ mùa gần đây vẫn còn lác đác ở một số địa phương trên địa bàn Hà Nội.
Tình trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do hiện nay, nông dân không có nhu cầu sử dụng rơm rạ cho việc đun nấu hàng ngày. Bên cạnh đó, thời gian giữa các vụ gieo trồng ngắn khiến rơm rạ khó phân hủy kịp trên đồng ruộng. Vì vậy, để thuận tiện cho việc làm đất, bà con chọn cách đốt rơm rạ ngay tại ruộng để diệt sâu bọ và lấy tro bón cho vụ sau.
Những năm qua, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội chủ trì, phối hợp với các sở, ngành liên quan tập trung đôn đốc, giám sát các quận, huyện (nay là xã, phường) có diện tích đất trồng lúa; đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người dân không đốt rơm rạ trên đồng ruộng.
Thực tế cho thấy, qua hơn 5 năm đi vào cuộc sống, Chỉ thị số 15/CT-UBND đã góp phần thay đổi căn bản nhận thức của đại bộ phận bà con nông dân. Từ đó, giảm thiểu tác động tiêu cực từ hành vi đốt rơm rạ đến chất lượng môi trường không khí.
Song song với đẩy mạnh tuyên truyền về tác hại của việc đốt rơm rạ đối với môi trường và sức khỏe cộng đồng, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cũng đang chỉ đạo các đơn vị liên quan tăng cường giám sát, kiểm kê nguồn thải phát sinh từ hoạt động này.
Đây là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng các chính sách quản lý phù hợp và hiệu quả, góp phần giải quyết “điểm nghẽn” về ô nhiễm môi trường không khí trong thời gian tới.











