Đề xuất miễn 7.500 tỷ đồng/năm thuế sử dụng đất nông nghiệp đến hết năm 2025
Bộ Tài chính ước tính, số thuế sử dụng đất nông nghiệp được miễn khoảng 7.500 tỷ đồng/năm...
Đề xuất tiếp tục miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đến năm 2025
Trung Quốc miễn thuế hơn 30 mặt hàng thủy sản Việt Nam
Xe Thái ồ ạt về Việt Nam, trong nước chỉ 11 mẫu xe được miễn thuế linh kiện
Không để lợi dụng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hoặc tham nhũng, lãng phí
Thảo luận về dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp (SDĐNN), đa số các ĐB tán thành với việc ban hành Nghị quyết nhằm cụ thể hóa Nghị quyết của Đảng và tính nhân văn của Chính phủ về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đối với các tổ chức, cá nhân trực tiếp SDĐNN, góp phần làm giảm bớt khó khăn cho nông dân.
Chính phủ trình Quốc hội ban hành Nghị quyết của Quốc hội về miễn thuế SDĐNN với nội dung kéo dài thời gian miễn thuế SDĐNN theo quy định tại các nghị quyết trước đó của QH đến hết ngày 31/12/2025.
Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, tổng kết, đánh giá 20 năm thực hiện chính sách miễn, giảm thuế SDĐNN cho thấy, tổng số thuế SDĐNN miễn, giảm giai đoạn 2003-2010 trung bình khoảng 3.268,5 tỷ đồng/năm; giai đoạn từ 2011-2016 trung bình khoảng 6.308,3 tỷ đồng/năm; giai đoạn 2017-2018 và dự kiến đến hết năm 2020 khoảng 7.438,5 tỷ đồng/năm.
Với đề xuất kéo dài thời gian miễn thuế SDĐNN đến ngày 31/12/2025, Bộ Tài chính ước tính, số thuế SDĐNN được miễn khoảng 7.500 tỷ đồng/năm.
Cho ý kiến tại phiên họp, ĐB Nguyễn Ngọc Phương (đoàn Quảng Bình) cho rằng, cùng với việc tiếp tục miễn, giảm thuế SDĐNN cũng phải xem xét kỹ lưỡng, công khai, minh bạch; phải chỉ đạo chặt chẽ trong việc quản lý thực hiện giảm thuế đúng đối tượng, nâng cao kết quả, hiệu quả quả sử dụng đất, hạn chế việc bỏ hoang hóa ruộng đất, không để lợi dụng vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hoặc tham nhũng, lãng phí.
“Nhiều năm qua chúng ta vẫn miễn, giảm thuế nhằm đẩy mạnh phát triển tam nông, do đó, việc giảm, miễn phải đến đúng đối tượng để chính sách đạt được hiệu quả trong mục tiêu đề ra”, ĐB nói.
Theo ĐB, Chính phủ cần tiếp tục tục thực hiện miễn thuế SDĐNN đối với đất đang sản xuất nông nghiệp của tổ chức, của hộ gia đình, của cá nhân, kể cả trường hợp đất đã được thừa kế, trao tặng, nhận chuyển quyền sử dụng đất mà thành viên đã nhận giao khoán ổn định của hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh để sản xuất nông nghiệp và góp phần thành lập hợp tác xã.
Tuy nhiên, đối với diện tích nông nghiệp mà nhà nước giao cho tổ chức quản lý không trực tiếp sử dụng đất sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì phải nộp thuế 100% quyền sử dụng đất.
ĐB Phạm Văn Hòa (đoàn Đồng Tháp) nhận định, việc miễn giảm thuế SDĐNN cũng có tác động tiêu cực cho một bộ phận nông dân thiếu tích cực trong sản xuất nông nghiệp trên diện tích nông nghiệp được nhà nước giao thiếu hiệu quả.
“Có tình trạng đất bỏ hoang hóa chưa được thu hồi, có tình trạng thu mua đất nông nghiệp để chờ nhận giá đền bù, bỏ hoang không sản xuất”, ĐB cho hay.
Cần phân loại và quy định đối tượng cho phù hợp
ĐB Trần Thị Hoa Ry (đoàn Bạc Liêu) tán thành với việc trong nghị quyết lần này cần có sự phân loại và quy định đối với một số đối tượng cho phù hợp chứ không chỉ kéo dài thời gian thực hiện.
Dẫn quy định tại điểm b khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 55, theo đó quy định đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho các tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị kinh tế khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho các tổ chức, cá nhân khác nhận thầu hợp đồng hoặc sản xuất đất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi theo quy định của Luật Đất đai và trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi thì phải nộp 100% thuế SDĐNN, ĐB cho rằng cần phải có sự cân nhắc vì trong thời gian vừa qua, thực tiễn cho thấy quy định này chưa được thực hiện một cách triệt để.
“Qua giám sát trong thực tiễn cũng cho thấy một số công ty nông lâm nghiệp, tình trạng này còn khá phổ biến. Nhiều công ty thua lỗ, hiệu quả sản xuất không cao và đất đai chủ yếu là khoán trắng, phát canh, thu tô không quản lý, sử dụng mà chủ yếu là giao khoán. Cá biệt có những đơn vị, thu nhập chủ yếu của công ty là dựa vào hoạt động từ dịch vụ cho thuê này nhưng một số địa phương và tổng công ty vẫn trình phương án duy trì chuyển đổi mà chưa mạnh dạn đề xuất để giải quyết dứt điểm vấn đề này”, ĐB nói.

ĐB Trần Thị Hoa Ry phát biểu tại phiên họp.
Theo ĐB, nếu cứ kéo dài Nghị quyết đơn thuần sẽ giống như một sự hợp thức hóa để tình trạng vi phạm pháp luật về sử dụng đất. ĐB đề nghị trong nghị quyết mới cần nhấn mạnh giải pháp để đảm bảo công tác quản lý, sử dụng đất có hiệu quả và thống nhất đối với đối tượng này.
ĐB Hoàng Văn Cường (đoàn Hà Nội) bày tỏ đồng tình với Tờ trình của Chính phủ và báo cáo thẩm tra cho rằng việc tiếp tục miễn thuế đất nông nghiệp có tác dụng hỗ trợ cho người nông dân nhất là trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 hiện nay.
Tuy nhiên, ĐB cho biết ông băn khoăn về khả năng nếu kéo dài chính sách này sẽ làm mất đi chức năng của thuế SDĐNN. Theo ĐB, thuế SDĐNN có 3 chức năng rất cơ bản, bao gồm điều chỉnh hành vi sử dụng đất; theo đó chỉ những người sử dụng đất có hiệu quả mới chiếm hữu đất còn những người sử dụng đất không có hiệu quả sẽ phải bỏ đất ra; chức năng phân phối lại, tức việc những người sử dụng đất đai nhiều để tạo ra nguồn lực thì phải đóng 1 phần thu nhập đó phân phối lại cho những người không sử dụng đất, từ đó khuyến khích những người không sử dụng đất trả lại đất; và chức năng tạo nguồn thu cho ngân sách.
Dẫn đánh giá tác động cho biết, phần miễn thuế làm giảm đi chưa đến 10.000 tỉ đồng, không ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách nhưng ĐB cũng cho rằng phần này không thể thúc đẩy phát triển nông nghiệp cũng như hỗ trợ đời sống của người nông dân bởi với chưa đến 10.000 tỉ đồng chia đều cho khoảng 11.000 hộ nông dân, tức mỗi hộ nông dân được miễn giảm chưa đến 1 triệu đồng/năm nên không thể có ý nghĩa trong việc thúc đẩy sản xuất.
ĐB cho rằng đây là sự bình quân hóa, chức năng phân phối lại nguồn đất của người sử dụng đất không được thực hiện, kéo theo việc không thực hiện được chức năng điều tiết hành vi sử dụng đất, vì hiện nay sử dụng đất không nộp thuế nên nhiều người không sử dụng cũng vẫn nhận đất, thúc đẩy thêm tình trạng bỏ hoang đất.
“Vì đất đai không chịu thuế nên người ta vẫn cứ giữ đất để đấy, trong khi nhiều người khác đang cần đất thì lại không có đất để sản xuất. Như vậy không chỉ để lãng phí đất mà lại cản trở quá trình tích tụ đất đai cho xu hướng sản xuất nông nghiệp tập trung hóa”, ĐB nói.
Từ một số phân tích thêm, ĐB Cường cho rằng chính sách miễn giảm thuế đã kéo dài hơn 20 năm, cho đến nay có lẽ không còn có hiệu quả nữa và kiến nghị cần nhanh chóng có chính sách mới để thu thuế đất nông nghiệp và thuế đó dùng để chi trả cho những người dân không sử dụng đất nữa cũng như chính sách hỗ trợ, tạo việc làm để khuyến khích, thúc đẩy phát triển nông nghiệp











