Câu hỏi về những lời khai trong vụ án
Đương sự Nguyễn Xuân Mẫn đã bày tỏ nhiều băn khoăn trong vụ án mà ông đang là một nạn nhân bị gạt ra bên lề khối tàn sản mà ông và vợ có được trong thời kỳ hôn nhân.
Một quyết định của tòa án cắt xén, những lời khai không minh bạch của các bên liên quan, khiến cho người đàn ông hơn 60 tuổi này vẫn long đong tìm công lý.
Dấu hiệu sai sót của những lời khai
Ông Nguyễn Xuân Mẫn (SN 1965), Địa chỉ ở Nguyễn Đình Chiểu, phường Bàn Cờ, TP.HCM. Là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án: “Tranh chấp về nghĩa vụ tài sản của Công ty Cổ phần NIVL”. Thụ lý số 01/2019/TLST-PS ngày 15/10/2019 của TAND tỉnh Tây Ninh.
Trong Hợp đồng thế chấp gốc, với điều 2.02(a) Giá trị tài sản thế chấp được ghi rõ là 14,4 tỷ đồng và điều 2.02(c) giá trị này chỉ có ý nghĩa tham khảo để cấp các khoản tín dụng cho vay, không bắt buộc phải được áp dụng khi xử lý tài sản thế chấp.
Điều 2.03(a) giá trị khoản tín dụng được ấn định rõ ràng là 10,2 tỷ đồng đây là những chốt chặn được in rất rõ ràng.
“Nhưng ngân hàng cho công ty NIVL vay vượt khoản tín dụng 10,2 tỷ đồng trên là hành vi vi phạm pháp luật của những cá nhân trong ngân hàng”, ông Mẫn khẳng định và chỉ ra từ Quyết định số 01/QĐNVTS-PS ngày 01/7/2025, để giải quyết quan hệ tranh chấp nghĩa vụ tài sản của TAND tỉnh Tây Ninh.
Theo ông Mẫn cho biết: “Công ty hợp danh quản lý và thanh lý tài sản Việt và ngân hàng đã khai hoàn toàn sai nội dung điều 2 của Hợp đồng thế chấp gốc, cắt bỏ con số định lượng 10,2 tỷ đồng trong điều 2.03(a) và chốt chặn trong điều 2.02(c) của hợp đồng thế chấp để làm sai lệch nội dung hợp đồng đã ký (từ 10,2 lên 14,4 tỷ đồng- Tăng nợ gốc lên 4,2 tỷ đồng + lãi suất, khiến tôi gánh thêm khoản nợ khống lên tới 10,2 tỷ đồng. Gây tổng thiệt hại lên 10,24 tỷ đồng”.
Việc cắt xén bớt Điều 2.02(c) và 2.03(a) của Hợp đồng thế chấp gốc trong trích dẫn điều 2.02(c) và 2.03(a) của Quyết định 01 nói trên để làm sai lệch nội dung vụ án, vụ việc.
Ông Mẫn cho rằng việc nâng khống nợ gốc lên 14,4 tỷ đồng khiến cho ông bị mất quyền lợi trong sở hữu tài sản và mang một gánh nặng lớn về nợ nần từ “trên trời rơi xuống”.
Ông Mẫn cho biết đã đưa bản sao Hợp đồng thế chấp gốc cho bên toà án xem xét và có Biên bản làm việc giữa ông với toà án vào ngày 12/05/2025. Ông đã khai rõ ràng khoản tín dụng tối đa là 10,2 tỷ đồng.
Tại điểm a khoản 2.03 của hợp đồng thế chấp quy định về Giá trị khoản tín dụng: “ các bên thống nhất rằng giá trị tín dụng của các khoản tối đa (cho vay, bảo lãnh, L/c, chiết khấu và hình thức cấp tín dụng khác) mà bên A cấp cho bên vay được xác định theo giá trị của tài sản thế chấp là 10.200.000.000 đồng ” (Theo Hợp đồng thế chấp số 13.112201/HĐTC).
Đây chính là mấu chốt khiến ông Mẫn bức xúc, vì ông cho rằng có dấu hiệu mập mờ trong Quyết định 01 của vụ án không trích dẫn giống như hợp đồng và bỏ sót câu chữ quan trọng.
“Việc cả 3 bên: ngân hàng, Công ty hợp danh quản lý và thanh lý tài sản Việt và tòa án cùng trích dẫn cắt xén, bớt, làm sai lệch nội dung điều 2 của Hợp đồng thế chấp cho thấy có dấu hiệu làm sai lệch bản chất vụ việc, cần cơ quan chức năng điều tra, xác minh có âm mưu chiếm đoạt tài sản hay không?”, ông Mẫn nêu quan điểm.
“Ban hành Quyết định số 01 vào ngày 01/07/2025 khi tôi đang ở nước ngoài (24/06 - 26/07/2025). Đây là hành vi tước đoạt quyền tranh tụng với các bên liên quan về lời khai gian dối, quyền đối chất về các chứng cứ bị cắt xén và quyền khiếu nại của tôi”, ông Mẫn bày tỏ thêm.
Quy trình đấu giá vi phạm luật và bác bỏ quyền đồng sở hữu trái luật
Theo Luật sư Trần Hải Đức (Đoàn LS TP.HCM) nhận định vụ việc: Tài sản thế chấp là bất động sản nên sẽ không có việc hư hỏng dẫn đến bị giảm sút giá trị hoặc mất toàn bộ giá trị.

Điều 300 Bộ Luật dân sự năm 2015 có quy định phải thông báo bằng văn bản cho các bên cùng nhận bảo đảm (cũng được thể hiện trong điều 5.03, 5.04 của Hợp đồng thế chấp) và Điều 47 của Bộ luật đấu giá tài sản có quy định quyền giám sát và tham dự quá trình tổ chức đấu giá nhưng ông Mẫn là đồng sở hữu tài sản và ký Hợp đồng thế chấp đã hoàn toàn không được thông báo về 5 buổi đấu giá.
Thậm chí Công ty đấu giá lại tự cho quyền hạn đứng trên cả các điều 300 và 47 của các bộ Luật đã nêu trên khi cho ý kiến “…..Ngoài ra, ICA không có nghĩa vụ thông báo riêng cho bất cứ cá nhân, tổ chức nào khác”? theo Quyết định 01.
Tài sản đã được đấu giá từ 21/10/2024 và đấu giá thành công vào ngày 04/01/2025 trước khi Thẩm phán ký quyết định 01/QĐNVTS-PS ngày 01/07/2025 gần 06 tháng?
Và khi được biết tin, ông Mẫn đã có gửi Đơn trình bày ngày 05/04/2025 và trực tiếp làm việc với tòa án vào ngày 12/05/2025 yêu cầu huỷ kết quả đấu giá theo điều 300 Bộ luật dân sự và thậm chí có yêu cầu quyền ưu tiên mua lại khị biết tài sản bị dìm giá hơn 25,7 tỷ đồng nhưng không được chấp nhận.
“Việc Quyết định 01 còn trích dẫn sai lệch Bản án phúc thẩm số 1081/2020/HNGĐ-PT ngày 08/12/2020 của TAND TPHCM đối với vụ án tranh chấp phân chia tài sản chung sau ly hôn giữa tôi và bà Ng để bác bỏ quyền đồng sở hữu tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của tôi.
Trong khi bản án 1081 hoàn toàn không tuyên tài sản riêng của bà Ng (vợ cũ ông Mẫn), việc tôi không có ý kiến khi bà Nga rút tài sản ra không phân xử vì tôi đã thông báo cho Thẩm phán phiên hoà giải về lời khai không trung thực của bà Nga và tài sản đang bị kiện tại TAND tỉnh Long An, Thẩm phán phiên hoà giải đã giải thích: “bất cứ tài sản nào không được phân xử trong phiên Tòa, nếu sau này có chứng cứ là tài sản chung (hình thành trong thời kỳ hôn nhân) thì tôi có quyền đóng án phí để yêu cầu Tòa xử phân chia tài sản đó” và đã được Luật sư tôi xác nhận đúng theo Luật định.
Và quan trọng hơn là bà Ng không đưa ra được bất cứ tài liệu được công chứng nào chứng minh tài sản được tặng/cho hoặc thừa kế theo Luật định”, ông Mẫn lý giải.
Trước đó, báo PLVN đưa tin: Ông Nguyễn Xuân Mẫn (SN 1965, ngụ P.Bàn Cờ, TPHCM) kết hôn năm 2000 với bà Ng, rồi ly hôn 2018.
Quá trình chung sống, ông và bà Ng. tạo lập được 2 phần đất thuộc thửa 643 (diện tích 16.644,6m2) và thửa 506 (với 4.500m2) tại huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũ (nay là TPHCM).
Trong đó, thửa 506 ông đã ký tên (được công chứng) để bà Ng chuyển quyền sử dụng đất (QSDĐ) cho Công ty TNHH Việt Ấn (do bà Ng. làm Giám đốc) nên không còn liên quan.
Còn thửa 643, ông để vợ đứng tên nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho ông, do trong thời kỳ hôn nhân.
Ngày 06/02/2013, vợ chồng ông ký Hợp đồng số 13.112201 với một ngân hàng bảo lãnh vay tối đa 10,2 tỷ đồng cho Công ty NIVL, thế chấp Quyền sử dụng đất thửa 643.
Cùng ngày, bà Ng- đại diện Công ty ký hợp đồng số 13.112202 với ngân hàng bảo lãnh vay 3,7 tỷ đồng cho Công ty NIVL, thế chấp Quyền sử dụng đất thửa 506.
Do làm ăn thua lỗ, Công ty NIVL đã nộp đơn xin phá sản năm 2018 và ngân hàng kiện Công ty NIVL ra tòa yêu cầu thanh toán nợ.
Ngày 1/7/2025, Tòa án tỉnh Tây Ninh ban hành Quyết định số 01/QĐNVTS-PS nhằm xác định nghĩa vụ tài sản liên quan đến Công ty CP NIVL, Ngân hàng cùng các cá nhân, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, trong khi thủ tục phá sản chưa hoàn tất.










