Tiếp bài: Quyền được bồi thường của người bị thiệt hại
Ngày 07/12/2015, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng đã ban hành Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BTP-BQP thay thế Thông tư liên tịch số 24/2011/TTLT-BTP-BQP ngày 15/12/2011 hướng dẫn thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự, trong đó có quy định một số điểm mới nhằm tạo thuận lợi cho công dân trong thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, đồng thời cũng tạo điều kiện cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự.
Quyền được bồi thường của người bị thiệt hại
5 tháng bồi thường 10 tỷ đồng vì chậm, hủy chuyến bay
Bồi thường thế nào cho người tù oan “xuyên” hai thế kỷ?
Tai nạn thảm khốc trên cầu Thái Hà: Ai sẽ bồi thường thiệt hại?

Thứ bảy, về thiệt hại được bồi thường. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp của người bị thiệt hại, Thông tư liên tịch (TTLT) số 17 đã có quy định rõ đối với thiệt hại thực tế và thiệt hại do tài sản bị xâm phạm.
Thiệt hại thực tế bao gồm cả chi phí thực tế người bị thiệt hại đã bỏ ra trong quá trình khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ như: chi phí tàu xe, đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu nại, tố cáo, tham gia tố tụng.
Theo đó, chi phí tàu xe, đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu được áp dụng theo quy định của Bộ Tài chính về chế độ công tác phí, chế độ chi tổ chức các hội nghị đối với các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập. Còn về thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, TTLT số 17 đã quy định cụ thể mốc thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính toán mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra.
Đồng thời, TTLT cũng quy định rõ về các khoản tiền phải nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm các khoản tiền mà người bị thiệt hại đã nộp vào ngân sách nhà nước hoặc các khoản tiền sẽ phải nộp vào ngân sách nhà nước.
Thứ tám, về hồ sơ yêu cầu bồi thường và gửi đơn yêu cầu bồi thường. So với TTLT số 24 thì TTLT số 17 bổ sung về hồ sơ: Giấy ủy quyền yêu cầu bồi thường hợp pháp, trong trường hợp người yêu cầu bồi thường là người đại diện theo ủy quyền của người bị thiệt hại; trường hợp người yêu cầu là người thừa kế của người bị thiệt hại.
Nhằm tạo thuận lợi cho người bị thiệt hại, về hồ sơ yêu cầu bồi thường, giai đoạn nộp đơn yêu cầu bồi thường, trường hợp người bị thiệt hại có tài liệu, chứng cứ kèm theo thì nộp, chưa bắt buộc nộp ngay, chỉ bắt buộc nộp sau khi đơn yêu cầu bồi thường được thụ lý, người bị thiệt hại phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình kể từ ngày đơn yêu cầu bồi thường được thụ lý cho đến khi kết thúc việc xác minh thiệt hại.
Đối với trường hợp người bị thiệt hại chết mà người thừa kế của người bị thiệt hại gửi đơn yêu cầu bồi thường cần có tài liệu chứng minh quyền thừa kế của người yêu cầu bồi thường, văn bản cử người thừa kế, giấy tờ chứng minh thân nhân của người yêu cầu bồi thường. Đồng thời, TTLT 17 cũng đã quy định cụ thể về phương thức gửi đơn yêu cầu bồi thường như trường hợp người bị thiệt hại gửi đơn trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện nhằm tạo thuận lợi cho công dân.
Thứ chín, về xác minh thiệt hại. So với TTLT số 24 thì TTLT số 17 đã quy định cụ thể về cách thức xác minh thiệt hại trong một số trường hợp cụ thể. Trong trường hợp người bị thiệt hại có hưởng lương, xác minh thiệt hại là tiền thuê nhà, in ấn tài liệu gửi đơn.
Trong trường hợp sau khi thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, người bị thiệt hại mới cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu bồi thường của mình thì người bị thiệt hại không có quyền yêu cầu bồi thường khoản tiền lãi phát sinh tính trên số tiền bồi thường thiệt hại thực tế và các khoản thiệt hại khác phát sinh trong thời gian cung cấp các tài liệu, chứng cứ đó.
Việc quy định cụ thể những phương thức xác minh thiệt hại nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc từ thực tiễn triển khai giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường.
Thứ mười, về thương lượng bồi thường. TTLT số 17 đã bổ sung quy định về trường hợp người bị thiệt hại cố ý không ký vào biên bản thương lượng và hậu quả pháp lý của trường hợp này.
Đồng thời, việc người bị thiệt hại không ký biên bản thương lượng là căn cứ để cơ quan có trách nhiệm bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường.
Bởi trên thực tế, giải quyết bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng có trường hợp người bị thiệt hại gây khó dễ cho cơ quan giải quyết bồi thường, dẫn đến việc giải quyết bồi thường gặp khó khăn, thời gian bị kéo dài mà chưa có quy định cụ thể để điều chỉnh. Quy định này tại TTLT số 17 nhằm tháo gỡ vướng mắc trên.











