Thượng tá Nguyễn Văn Á tri ân ký ức và nâng trăn trở
Đọc thơ, văn Nguyễn Văn Á, người đọc nhận ra rằng, quá khứ luôn hiện diện, ký ức của mỗi người là một phần của ký ức dân tộc, giúp người ta thêm hiếu và biết ơn lịch sử, trân trọng hơn giá trị của hiện tại…

Thượng tá Nguyễn Văn Á là một nhà báo, cựu chiến binh, từng có mặt ở những mặt trận nóng bỏng trong các cuộc chiến tranh thống nhất đất nước và bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc của Tổ quốc.
Năm 2025, anh xuất bản tập thơ “Giọt sương bên cửa sổ” do NXB Hội Nhà văn và tập truyện ký “Phía Nam sông Bến Hải”do NXB Văn học cấp phép; năm 2026 xuất bản tập thơ “Bóng núi”do NXB Văn học cấp phép và tập truyện ký “Nơi chiến hào biên giới” do NXB Hội Nhà văn cấp phép.
Đọc thơ, văn Nguyễn Văn Á, người đọc nhận ra rằng, quá khứ luôn hiện diện, ký ức của mỗi người là một phần của ký ức dân tộc. Và đó là một thành tố của văn hóa, không mất đi. Dẫu thế giới ngày càng đa biến, lối sống của con người với các “thang giá trị” ngày càng thay đổi, có cả các giá trị nhân tính lẫn phi nhân tính.
Trong thế giới đang ngày càng “hỗn mang”, nhiều giá trị văn hóa, tinh thần bị tổn thương ấy, thơ Nguyễn Văn Á là giọng thơ đầy phẩm giá.
“Bóng núi”, gồm 96 bài thơ, được tác giả Nguyễn Văn Á bố cục thành ba phần: Phần I có tựa đề “Hoài cảm” gồm 28 bài thơ; Phần II có tựa đề “Xuân đợi” gồm 32 bài thơ; Phần III có tựa đề “Bóng núi” gồm 36 bài thơ.

Thơ trước hết là cuộc đời. Đọc “Bóng núi”, nhận ra “cuộc đời” của tác giả Nguyễn Văn Á, phong phú, và nói như nhà thơ Tố Hữu, thơ chỉ bật lên khi cuộc sống đã tràn đầy. “Tôi sinh ra sau luỹ tre làng / bước vào đời những tháng năm thiếu mẹ / cảnh gà trống nuôi con / tôi thành người nhặt sạn / sàng lọc cuộc đời tìm kế sinh nhai”, CChân dung tự họa).
Và rồi chiến tranh xảy ra, tác giả lên đường nhập ngũ. Đó là những năm tháng “Cuộc đời đẹp nhất là trên trận tuyến đánh quân thù” (Lê Mã Lương). Nguyễn Văn Á đã tham gia những trận đánh, bây giờ đã trở thành những chương hào hùng trong bản hùng ca giữ nước. Tiêu biểu là Chiến dịch Thành cổ Quảng Trị 81 ngày đêm.
“Ở Quảng Trị bom đạn đầy trời / tôi viết tiếp bài ca ra trận / đọ sức với quân thù / ăn ngủ dưới hầm / uống nước hố bom / chôn đồng đội chẳng còn nguyên thi thể”, (Chân dung tự họa)
Phải hiểu được nhân thân tác giả, hoàn cảnh ra đời mới hiểu được đời sống nội tâm, hiểu được tác phẩm. “Tôi mang trên mình vết thương không mảnh đạn”, thực tế chiến trường đã mang đến cho Nguyễn Văn Á nỗi đau khắc khoải, được thi ca hóa, thành câu thơ ám ảnh.
Câu thơ này, giải nghĩa vì sao cựu chiến binh Nguyễn Văn Á suốt những năm thời hậu chiến luôn bước đi trên con đường thiện nguyện “Đền ơn đáp nghĩa” để tri ân các anh hùng liệt sĩ, tri ân người công với nước và tri ân đồng đội không mệt mỏi. Dường như chỉ có như thế, “vết thương không mảnh đạn” mới nguôi ngoai trong tâm hồn anh.
“Chẳng thể nào kể hết nỗi truân chiên / của người lính trở về sau cuộc chiến / thời gian chẳng thể nào xoá hết / những u buồn trong ánh mắt xa xăm”. “Sẽ còn nguyên trong ký ức nhiều năm / một thuở đạn bom, một thời đồng đội”, thơ anh thay xác tín.
Nguyễn Văn Á nhập ngũ tháng 8/1971, chiến đấu tại Quảng Trị từ năm 1971 đến năm 1973. Anh thuộc biên chế Đại đội 16, Trung đoàn 27, Sư đoàn 320B (nay là Sư đoàn 390), Quân đoàn I (nay là Quân đoàn 12). Bàn chân người lính Nguyễn Văn Á rong ruổi khắp chiến trường khốc liệt “ăn cơm bờ Bắc, đánh giặc bờ Nam” từ phía Bắc đến phía Nam Quảng Trị cho đến khi Hiệp định Pa ris chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam có hiệu lực (ngày 28 tháng 1 năm 1973). Mùa Xuân năm 1975, anh lại cùng đồng đội tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng miền Nam và có mặt tại thành phố Sài Gòn trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử.
Năm 1977, Nguyễn Văn Á chiến đấu ở biên giới Tây Nam chống quân Khơ me đỏ, giúp đất nước Căm-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng. Năm 1978 đến năm 1980, anh có mặt tại mặt trận Đồng Đăng (Lạng Sơn) chiến đấu chống quân Trung Quốc xâm lược, bảo vệ chủ quyền biên giới Quốc gia thiêng liêng của Tổ quốc.

Nguyễn Văn Á phục vụ trong Quân đội 27 năm tròn từ “Binh nhất” đến cấp hàm Thượng tá. Là một người lính bước ra từ khói lửa chiến tranh với hàng chục năm ròng lăn lộn khắp chiến trường khốc liệt tử sinh, nên dễ dàng cảm nhận được từ anh những phẩm cách đáng quý của “Bộ đội Cụ Hồ” và một tấm lòng sâu nặng nghĩa tình với đồng chí, đồng đội. Hình ảnh người lính trong hồi ức của anh lấp lánh một tình cảm trìu mến với cách hành văn cô đọng, chân phương mà tràn đầy xúc cảm.
Trong tập thơ “Bóng núi”, Quảng Trị - nơi Nguyễn Văn Á từng sống và chiến đấu, có vị trí đặt biệt. Chính vì thế, anh có các bài thơ “Câu thơ viết vội”, “Chiều Thành cổ”, “Đêm Thạch Hãn”, “Trường Sơn”, “Thành cổ chiều nay”, “Chân dung tự họa”, “Đêm Phương Ngạn”.
“Mảnh đất này bao máu chảy, đầu rơi / Đền liệt sĩ(1) về đêm càng vắng vẻ / Ánh đèn đường lặng lẽ thức thâu đêm / Cùng người lính thắp lên niềm kiêu hãnh”, (Đêm Phương Ngạn)
Nhà thơ Nguyễn Văn Á từng tâm sự, việc xây dựng Khu Tưởng niệm 2.500 liệt sĩ Trung đoàn 27 với 1 nhà bia và 16 chiếc bia đá ghi danh 2.500 liệt sĩ Trung đoàn 27 thực chất là “nghĩa trang không mộ” để “trả lại tên” cho 1.840 liệt sĩ Trung đoàn 27 chưa tìm thấy hài cốt; Đền thờ 2.500 liệt sỹ Trung đoàn 27 là “ngôi nhà chung” quy tập vong linh 50 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng của Trung đoàn 27 và thôn Phương Ngạn; vong linh 2.500 liệt sĩ Trung đoàn 27, Sư đoàn 390, Quân đoàn 12; và vong linh 60 liệt sĩ thôn Phương Ngạn vào thờ phụng.
Tháng 12/2020, Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Trị (cũ) đã ban hành Quyết định công nhận “Địa điểm lưu niệm trận địa súng Phòng không Trung đoàn 27” (nơi bắn rơi 2 máy bay của địch và có 5 cán bộ, chiến sĩ Khẩu đội 5, Đại đội 16, Trung đoàn 27 hy sinh ngày 15/1/1973) là Di tích lịch sử cấp Tỉnh.
Tháng 11/2022, Tổ chức Kỷ lục Việt Nam đã cấp “Bằng xác lập Kỷ lục Việt Nam” cho cụm công trình: Khu tưởng niệm 2.500 liệt sĩ Trung đoàn 27; Đền thờ 2.500 liệt sĩ Trung đoàn 27; Khu tưởng niệm 81 liệt sĩ Đại đội 16, Trung đoàn 27; Bia chiến tích Khẩu đội 5 và các công trình phụ trợ, do Nhà thơ Nguyễn Văn Á - Tác giả ý tưởng và trực tiếp đứng ra vận động các tổ chức, cá nhân ủng hộ kinh phí xây dựng công trình với tổng số tiền hơn 15 tỷ đồng.
Thông qua những việc làm “Đền ơn đáp nghĩa”, chúng ta hiểu vì sao Nguyễn Văn Á đã viết những vần thơ với trạng thái cảm xúc ám ảnh. Hay nói cách khác, viết bằng vô thức, viết để trả ơn đồng đội đang nằm lại mảnh đất này, viết để trả nghĩa đồng bào đã đùm bọc chở che anh và đồng đội trong khói lửa chiến tranh.
Chiến tranh quá khốc liệt. Thế mới hiểu những ám ảnh trong thơ Nguyễn Văn Á: “Đồng đội tôi sau cuộc chiến tranh / đứa trở về với đôi nạng gỗ / đứa trở về trên người nham nhở / vết sẹo na pan chẳng thể xoá nhoà”, (Chân dung tự họa).
Đọc thơ Nguyễn Văn Á, người đọc hiểu thêm và trân quý giá trị của hòa bình, thống nhất. Giá trị ấy đã đổi bằng biết bao nhiêu xương máu của các thế hệ thương binh, liệt sỹ và nhân dân Việt Nam đã đổ ra trên đất này.
Sinh thời, Nhà thơ Xuân Diệu từng nói: “Thơ là hiện thực, thơ là cuộc đời, thơ còn là thơ nữa”. Chưa thể đòi hỏi sự “cao siêu” ở thơ Nguyễn Văn Á, nhưng trong tiếng lòng dung dị, chân thực của tác giả, người yêu thơ nhận ra được không gian nghệ thuật, ngôn ngữ miêu tả trong thơ anh.
Nói như nhà thơ, nhà lý luận phê bình, Đại tá Lê Thành Nghị, thi nhân từ cổ chí kim chẳng mấy ai được yên ổn trong tâm hồn, mấy ai dửng dưng bàng quan với cái đẹp? Khi đã “yên ổn”, “dửng dưng” thì cũng có nghĩa là thơ ca đã đến chỗ vô hồn. Đọc “Bóng núi” của Nguyễn Văn Á, nhận ra bóng núi đổ xuống, đó chính là bóng của những ưu tư, suy tư, những nỗi buồn, sự bất an trong tâm hồn nhà thơ.
Đọc “Bóng núi”, xin nhắc thêm quan điểm của nhà lý luận phê bình Lê Thành Nghị. Theo anh, đã mất rất nhiều giấy mực tìm cách cắt nghĩa thơ, nhưng hình như cổ kim đều không thể, bởi vì sự phong phú của thơ tạo nên một bất khả, một thứ hầu như chỉ lơ mơ cảm thấy mà không thể gọi tên, hoặc không thể gọi đúng tên. Thơ hay đôi khi đi liền với bí mật.
“Bóng núi” có thơ ngắn (tứ tuyệt), thơ dài; có thơ tự do, thơ truyền thống; có thơ tình, thơ tự sự... Trong những bài thơ dài, không ít những bài thơ có vẻ đẹp sử thi. Tiêu biểu là “Ta lại hát bài ca đất nước” gồm 146 câu thơ, 1.054 chữ; mạch cảm xúc đi suốt từ Chiến thắng Điện Biên phủ năm 1954 đến Chiến dịch Đại thắng mùa Xuân năm 1975, và cho đến hôm nay.
Thơ Nguyễn Văn Á, dù dung dị, chân thành nhưng không thiếu những điều bí mật, nơi thế giới ngoại cảm và chủ thể trữ tình đã hòa làm một, trong sự sáng tạo của ngôn ngữ thi ca./.










