Sử dụng biển số xe ô tô giả, có thể đối diện với mức án 7 năm tù giam
Theo chuyên gia pháp lý, việc sử dụng biển số xe giả có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự lên đến 7 năm tù giam.
Hà Nội sẽ có dự án nhà ở xã hội độc lập quy mô từ 50ha trở lên
Chủ tịch Hà Nội tặng bằng khen người hùng cứu bé gái rơi từ tầng 13 chung cư
Những ngày gần đây, dư luận đang không ngừng lan truyền hình ảnh 2 chiếc ô tô Mercedes Benz cùng đời, cùng biển số lưu thông trên phố thuộc địa bàn phường Vạn Phúc, quận Hà Đông, TP Hà Nội đã “chạm mặt nhau”. Sự việc đã mang đến cho nhiều người thắc mắc không biết chiếc xe nào gắn biển thật, xe nào biển giả?.

Hình ảnh 2 chiếc xe Mercedes mang biển số giống nhau. (Ảnh: CTV)
Nhiều người còn so sánh sự việc như tình tiết “tôn hành giả, giả hành tôn” trong tác phẩm “Tây Du ký.”
Liên quan đến sự việc, một lãnh đạo Công an quận Hà Đông, TP Hà Nội cho biết, cơ quan này đã nhận được thông tin về sự việc và đã triệu tập những người được cho là chủ phương tiện đến trụ sở Công an phường Vạn Phúc làm việc để xác định rõ xe nào mang biển số giả để xử lý.
Theo một số nguồn tin, biển số 30E - 48816 trong hệ thống đăng ký là của một chiếc ô tô nhãn hiệu Mercedes Benz được sản xuất năm 2011 và đăng ký lần đầu trong tháng 3/2012. Chủ sở hữu theo đăng ký là một pháp nhân có trụ sở tại quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội.
Nhận định về sự việc dưới góc độ pháp lý, Luật sư Vũ Thị Nhung – Đoàn luật sư TP Hà Nội cho rằng: Theo Thông tư số 15/2014 của Bộ Công an thì thẩm quyền tiến hành đăng ký xe và cấp biển số thuộc Cục Cảnh sát Giao thông; Phòng Cảnh sát Giao thông, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Vì vậy, tất cả các cá nhân, tổ chức không được nhà nước giao quyền mà tự ý sản xuất, mua bán, sử dụng biển số xe cơ giới (trong đó có ô tô) là hoàn toàn trái pháp luật. Đây cũng là hành vi bị nghiêm cấm đã được quy định tại Khoản 22 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ năm 2008:
"22. Sản xuất, sử dụng trái phép hoặc mua, bán biển số xe cơ giới, xe máy chuyên dùng."

Luật sư Vũ Thị Nhung - Đoàn Luật sư TP Hà Nội.
Cũng theo khoản 18, điều 3 của Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì ô tô cũng là một loại xe cơ giới:
“18. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (sau đây gọi là xe cơ giới) gồm xe ô tô; máy kéo; rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi xe ô tô, máy kéo; xe mô tô hai bánh; xe mô tô ba bánh; xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự.”
Với hành vi trái pháp luật nêu trên, người sử dụng biển số xe giả sẽ bị xử phạt hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ các yếu tố cấu thành tội phạm.
Ở mức độ vi phạm nhẹ, người sử dụng biển số xe không đúng quy định (biển số giả) sẽ bị xử phạt hành chính với mức phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng theo căn cứ tại điểm d, khoản 5, Điều 16 của Nghị định số 100/2019/NĐ-CP. Đồng thời, ngoài việc xử phạt, cơ quan chức năng còn tiến hành tịch thu biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe của người vi phạm từ 1 tháng đến 3 tháng.
Mặt khác, Luật sư Nhung cũng bày tỏ: Việc sử dụng biển số xe trái phép (biển không do cơ quan có thẩm quyền cấp phép, biển giả) có thể nhận định là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội theo quy định của Bộ luật Hình sự đang có hiệu lực thi hành.
Theo đó, hành vi nêu trên có thể bị cơ quan chức năng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với hình phạt cao nhất lên đến 7 năm tù giam. Bên cạnh đó, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền đến 50.000.000 đồng theo khoản 4 của điều luật này:
“Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
a) Có tổ chức;
b) Phạm tội 02 lần trở lên;
c) Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
e) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;
b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

