Sau phán quyết của TAND tỉnh Hải Dương, người dân bức xúc kháng cáo lên Toà cấp cao
Sau phán quyết của TAND tỉnh Hải Dương, người dân đã bức xúc gửi đơn kháng cáo lên Toà cấp cao.
Nắm bắt cơ hội mới, góp phần xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng
Nguyên tắc bất biến
Bắt ổ đánh bạc giữa cánh đồng hoang
Lào Cai: Bắt quả tang 1 đối tượng có hành vi mua bán trái phép heroin
Bắt một giám đốc liên quan vụ 'bảo kê' khai thác cát trái phép ở An Giang
Mới đây, TAND tỉnh Hải Dương mở phiên toà xét xử vụ “Tranh chấp kiện đòi tài sản và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa Nguyên đơn là bà Lưu Thị Chiến (SN 1954, ở thôn Viên Chử, xã Kim Tân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương) và Bị đơn là ông Trần Văn Lân (SN 1956, ở thôn Viên Chử, xã Kim Tân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương).
Theo đó, TAND tỉnh Hải Dương tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị Chiến về kiện đòi tài sản là quyền sử đất đối với ông Trần Văn Lân, xác định ông Lân và bà Hứa Thị Trinh đang quản lý, sử dụng 207,5m2 đất thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà Lưu Thị Chiến và phải trả lại đất cho nguyên đơn…
Đồng thời, toà không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Trần Văn Lân về việc huỷ bỏ, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất.
Ngay sau khi phiên toà sơ thẩm kết thúc, phía bị đơn đã làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 27/07/2023 của Tòa án Nhân Dân tỉnh Hải Dương.

Bản án của toà án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Bởi phía bị đơn cho rằng, TAND tỉnh Hải Dương đã không xem xét vụ án một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật về nguồn gốc và việc mua bán phần đất tranh chấp giữa người kháng cáo và vợ chồng bà Lưu Thị Chiến. Tòa án cấp sơ thẩm đã không xem xét đánh giá chứng cứ một cách khách quan toàn diện có trong toàn bộ hồ sơ vụ án...
Đất đã mua và sử dụng ổn định
Trong phiên toà sơ thẩm, phía Nguyên đơn cho biết, bà Lưu Thị Chiến và ông Trần Văn Chứng được UBND huyện Kim Thành cấp GCNQSDĐ với diện tích 996m2 tại thôn Viên Chử, xã Kim Tân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương vào năm 2004.
Năm 2005, ông Chứng mất, bà Chiến chỉ có một người con trai là anh Trần Văn Chanh. Năm 2017 và 2019, anh Trần Văn Chanh đề nghị UBND huyện Kim Thành sửa đổi GCNQSDĐ. Do đó, bà Chiến được cấp GCNQSDĐ với diện tích 1046m2.
Năm 2021, sau khi chuyển nhượng một phần diện tích trong số 1046m2 cho người khác thì bà được cấp GCNQSDĐ mới với diện tích là 596m2.
Từ năm 1997, mặc dù không có sự thoả thuận nào giữa 2 bên gia đình, không thực hiện bất cứ thủ tục chuyển nhượng nào tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, ông Lân tự ý chiếm và sử dụng bất hợp pháp 198m2.

Hiện trạng mảnh đất mà gia đình ông Lân đã mua và sử dụng ổn định.
Ngược lại với những ý kiến trên, Bị đơn cho rằng: Năm 1995, vợ chồng bà Chiến đã chuyển nhượng 172,0m2đất ao tại thôn Viên Chử, xã Kim Tân, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương (Phần Đất Tranh Chấp) cho vợ chồng ông Lân với giá 2.000.000 VNĐ. Ông Lân đã thanh toán cho ông Chứng số tiền 1.800.000 VNĐ sau khi bù trừ khoản tiền 200.000 VNĐ mà ông Chứng nợ ông Lân trước đó.
Các bên có lập giấy biên nhận giao tiền (đã thất lạc) và việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của ông Trần Văn Vinh và ông Trần Văn Tuất cũng là người cùng xóm.
Năm 1996, ông Lân đã thuê ông Nguyễn Văn Lâm san lấp diện tích ao đã mua để trồng cây; sau đó xây chuồng lợn, chuồng trâu, nhà vệ sinh và tường rào bằng gạch để ngăn cách với nhà ông Chứng.
Gia đình ông Lân đã sử dụng diện tích đất này một cách ổn định và không có tranh chấp với ai kể từ thời điểm đó cho đến nay.
Đến ngày 07/05/2008, theo chủ trương của huyện Kim Thành, UBND xã có đo đạc đồng loạt để cấp GCNQSDĐ theo thực tế hiện trạng sử dụng đất, hai gia đình đã tự nguyện thỏa thuận, được chứng kiến và được lập Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất (theo hiện trạng sử dụng đất) kèm theo hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2009 xác nhận thửa đất trên thuộc sở hữu của gia đình ông Lân.
Năm 2021, vợ chồng ông Lân bất ngờ khi biết thửa đất mình đã mua và đang sử dụng đã được sáp nhập vào hộ bà Chiến và được UBND huyện Kim Thành cấp đổi/cấp lại sổ đỏ bắt đầu từ ngày 21/3/2017, cho cá nhân bà Chiến với mục đích sử dụng là đất ở nông thôn.
Vợ chồng ông Lân cho rằng, Biên bản xác minh hiện trạng nhà đất ngày 27/02/2017, (trong hồ sơ đề nghị đăng ký biến động đất đai của bà Chiến) đã có giả mạo chữ ký của ông Lân và các chủ hộ có diện tích đất giáp ranh là bà Nguyễn Thị Phương và ông Đào Văn Sáu do ông Lân và những người này không hề ký vào bất cứ giấy tờ hồ sơ đất nào của bà Chiến và cũng lập vi bằng để xác nhận rằng chữ ký trong hồ sơ đất này không phải chữ ký của họ.
Nhiều tình tiết cần được làm rõ
Luật sư Nguyễn Đặng Minh, Lương Trung Kiên (Công ty luật TNHH BLUE PISCES) là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho Bị đơn trong phiên toà xét xử phúc thẩm tới đây cho biết: Một thực tế rõ ràng không thể chối cãi là gia đình ông Lân đã quản lý, sử dụng ổn định phần đất tranh chấp mà không có bất kỳ cản trở, tranh chấp nào từ 1995 cho đến năm 2021.
“Nếu thực sự không có giao dịch “bán” phần đất tranh chấp từ gia đình bà Chiến cho gia đình ông Lân thì không thể nào ông Lân có thể sử dụng phần đất này một cách ổn định, trong một thời gian dài như vậy”, luật sư Minh nhấn mạnh.

Gia đình ông Lân cũng đã lập Vi bằng về những dấu hiệu sai phạm trong vụ án.
Cũng theo luật sư Nguyễn Đặng Minh phân tích, sự tồn tại hợp đồng mua bán hợp pháp giữa vợ chồng ông Lân và vợ chồng ông Chứng đối với thửa đất đang tranh chấp căn cứ vào biên bản lấy lời khai của anh Trần Văn Chanh là con trai và người đại diện theo ủy quyền của bà Chiến tại bút lục 175 có đoạn như sau: “Năm 1995 ông Lân và em trai là ông Tuất có sang nhà tôi hỏi mua diện tích phần ao 198 mét vuông với giá 1.200.000đ nhưng sau đó đã sang đòi lại tiền về”.
“Căn cứ vào đó có thể thấy việc ông Lân đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho ông Chứng là có thật. Tuy nhiên việc ông Lân sang đòi tiền về? Đòi lại bao nhiêu? Sau khi đòi, vợ chồng ông Chứng có trả lại hay không? Việc này anh Chanh không chứng minh được”, luật sư Nguyễn Đặng Minh cho hay.
Ngoài ra, tại bút lục 146 anh Chanh có thừa nhận việc bố mình có nợ 200 nghìn tiền uống rượu đối với ông Lân. Điều này trùng khớp với lời khai của bị đơn, đồng thời trùng hợp với lời khai của hai nhân chứng là ông Vinh và ông Tuất tại bút lục số 182 rằng số tiền này đã được cấn trừ vào tiền mua đất.
“Trong tất cả lời khai của nguyên đơn, bị đơn và hai nhân chứng đều có sự thống nhất về địa điểm giao kết hợp đồng ở thời điểm đó là tại gia đình ông Chứng. Những căn cứ này chứng minh sự tồn tại của hợp đồng mua bán giữa ông Chứng và ông Lân”, luật sư Minh lập luận.
Cũng theo luật sư Nguyễn Đặng Minh, hợp đồng mua bán chuyển nhượng giữa các bên tồn tại hoàn toàn hợp pháp.
“Cái này đã được hướng dẫn rất rõ trong nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình và Pháp Lệnh Của Hội Đồng Nhà Nước Số 52-LCT/HĐNN8 ngày 07/05/1991 về Hợp Đồng Dân Sự, Luật Đất Đai 1993 và các văn bản Luật khác có hiệu lực áp dụng đối với giao dịch chuyển nhượng đất trên đều không quy định bắt buộc về hình thức (văn bản, công chứng, chứng thực) đối với giao dịch chuyển nhượng đất đai, do đó, hợp đồng này không vi phạm quy định về hình thức”, luật sư Minh cho biết.
Cũng theo luật sư Nguyễn Đặng Minh: các bên đã thực hiện bàn giao toàn bộ tiền và bàn giao toàn bộ thửa đất nên đồng nghĩa với việc các bên đã thực hiện toàn bộ nghĩa vụ của hợp đồng. Đồng thời, sau khi bàn giao bên mua đã lấp ao, xây tường bao phân định rõ ranh giới, có sự chứng kiến của nhân chứng.
Việc này diễn ra có quy mô và trong thời gian dài nên vợ chồng ông Chứng bà Chiến ở liền kề biết và phải biết nhưng không có sự phản đối thể hiện ý chí chủ quan của vợ chồng bà Chiến hoàn toàn từ bỏ quyền sở hữu đối với thửa đất tranh chấp.
Việc này được hiểu là việc thực hiện nghĩa vụ giao đất của hợp đồng mua bán đã có sự thỏa thuận thống nhất ý chí hoàn toàn của các bên.
“TAND Tỉnh Hải Dương đã không thu thập bằng chứng và triệu tập người liên quan đến hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Chiến, đặc biệt trong đó có các vi bằng về việc các hộ dân liền kề có ý kiến rằng họ đã không ký vào biên bản xác nhận ranh giới trong hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của bà Chiến năm 2017”, luật sư Minh cho biết.
Ngoài ra, luật sư Nguyễn Đặng Minh cũng cho biết thêm, cơ quan điều tra cần điều tra làm rõ hành vi giả mạo chữ ký đối vơi chữ ký của các hộ giáp ranh trên Biên bản xác minh hiện trạng nhà đất ngày 27/02/2017 (thuộc hồ sơ đề nghị đăng ký biến động đất đai của bà Chiến).
Đây là căn cứ để UBND huyện cấp GCNQSDĐ nhưng ông Trần Văn Lân, bà Nguyễn Thị Phương và ông Đào Văn Sáu đều xác nhận không ký vào hồ sơ này và không công nhận chữ ký trong hồ sơ là chữ ký của mình.
“Vậy ai là người đã giả mạo chữ ký của những hộ trên khi anh Trần Văn Chanh nhận ủy quyền từ bà Chiến thực hiện việc xin cấp GCNQSDĐ?”, luật sư Minh đặt ra câu hỏi.

