Những điều chưa biết về 12 sắc phong ở đền Khai Long
Tại đền Khai Long nơi lưu giữ 12 sắc phong bản gốc và được Viện Hán Nôm dịch, đóng dấu, cho thấy các sắc phong được ban cho Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan và Khai Long sứ.
Đền Khai Long là một di tích lịch sử văn hóa nằm ở xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An. Đây là một công trình văn hóa tâm linh nổi tiếng của nhân dân Đô Lương, ngôi đền nơi đây phối thờ hai vị thần là Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan và thiên thần Khai Long sứ.
Nói về sự linh thiêng vời vợi thì Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan là nhân vật cực kỳ linh thiêng. Vua Bình Anh Vương (Trịnh Tùng - chúa Trịnh) nghĩ tới các bậc huân nghĩa triều trước, đã dâng biểu xin ban tặng thêm cho những cố công thần. Vua đưa việc này xuống cho triều đình bàn bạc rồi sai Bộ Lễ chiếu theo thi hành.

Đền Khai Long ở xã Trung Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Sau khi chế sắc ban xuống, phàm dòng họ nào có tổ tiên được phong tặng đều làm lễ cáo tế ông bà nơi u minh cùng chia sẻ tin vui. Lễ xong, đêm hôm ấy nổi mưa gió. Bình An Vương suốt ngày coi chầu, tối đến ngủ say, mộng nghe ngoài thềm có người bẩm bạch rằng: “Tiểu tướng từ đời cha ông đã thờ Tiên đế cùng chủ soái, xông pha tên đạn, có nhiều công huân. Không may chết ở tha hương, nhưng hồn phách không rời Vương thất. Ngày đêm ngầm phò quốc mạch, tuy tại âm phủ mà không chút nào lìa Vương cơ. Nay gặp ngày sinh nhật, đặc biệt xin bái yết”.
Vương nghe tiếng, bèn trở dậy nhìn ra ngoài cửa, thấy Tấn Quốc công đang nghiêng mình vái chào. Vương liền khoác áo bước ra đón khách vào nhà. Cả hai cùng nhìn nhau khóc nức nở. Bất giác Vương cựa mình tỉnh dậy. Cảnh vật vẫn yên tĩnh. Trời sáng Vương cho mời các đại thần phủ liêu đến, kể lại giấc mộng đêm qua, nhân đó nói thêm rằng: “Tấn Quốc công đối với việc khôi phục và tạo dựng phúc nước đều đã góp nhiều công sức. Việc gia phong mới rồi chưa thật thỏa đáng, ta rất lấy làm tiếc”. Bèn ra lệnh làm tờ biểu tâu lên, xin hậu tặng điển lễ(trích Hồi bốn - Tiết thứ nhất trong cuốn “Thiên Nam Liệt Truyện Hoan Châu Ký).
Bộ lại soạn tờ chế xong, đưa đến Bộ Lễ ban hành, gia phong Tấn Quốc công làm Hùng nghị khuông tế trạch dân đại vương (tể tướng), xếp vào bậc trung đẳng thần trong điển lễ nhà nước, nghìn xuân hương lửa, cúng giỗ muôn đời (Hồi bốn - Tiết thứ hai trong cuốn “Thiên Nam Liệt Truyện Hoan Châu Ký).
Tương truyền rằng, vùng đất nơi ngôi đền Khai Long tọa lạc xưa kia là vùng đất vốn khô cằn sỏi đá, dân cư thưa thớt. Vào một đêm trăng thanh vắng, tự nhiên xuất hiện một con rồng trắng dài hàng chục mét uốn lượn trên đỉnh ngọn núi, từ miệng rồng phát ra một luồng ánh sáng nhiều màu sắc làm sáng rực cả bầu trời, rồi sau đó rồng biến mất. Một điều kỳ lạ đã xảy ra, tại vùng đất nơi con rồng xuất hiện thì mưa thuận gió hòa, đất đai phì nhiêu, màu mỡ. Thấy vậy, người dân kéo nhau đến đây xây dựng nhà cửa làm ăn sinh sống ngày càng đông đúc và cuộc sống của họ trở nên khấm khá hơn. Để tạ ơn thần linh - thiên thần Khai long sứ, người dân nơi đây đã tiến hành góp công, góp của xây ngôi đền để người dân tới thắp hương cầu xin điều may mắn.
Tại đền Khai Long nơi lưu giữ 12 sắc phong bản gốc và được Viện Hán Nôm dịch, đóng dấu, cho thấy có 4 sắc phong được ban riêng cho Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan, 4 sắc phong được ban riêng cho vị thần Khai Long sứ và 4 sắc phong ban chung cho Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan và Khai long sứ.
Nhưng điều đặc biệt ở 4 sắc phong ban chung đó, có 2 sắc phong ban tên Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan trước, theo sau là ban tên Khai Long sứ và 2 sắc phong ban tên Khai Long sứ trước, theo sau là tên Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan. Như vậy, có thể thấy đền Khai Long được phối thờ hai vị thần, không có sự phân cấp bậc ở hai vị thần. Có thể đơn cử một số sắc phong trong mười hai sắc phong tại đền Khai Long như sau:

Sắc ban Thái phó Tấn Quốc công | Tự Đức năm thứ 3 | 15/11/1850.
Dịch nghĩa: Sắc ban cho vị thần Binh bộ Thượng thư Thái Phó Tấn phủ quân tên thụy là Khiêm Cẩn đã từng được phong tặng Tuấn mại cương trung đoan lượng bậc trung đẳng thần, là vị thần có công hộ quốc giúp dân rất linh ứng. Đã từng ban cấp sắc phong cho thờ tự. Nay ta lên gánh vác mệnh lớn, nghĩ đến công lao to lớn của Thần giúp nước cứu dân, đáng phong tặng thêm là: Tuấn mại cương trung đoan lượng quang ý (nhòe 2 chữ), vẫn chuẩn cho xã Thuần Trung, huyện Lương Sơn thờ phụng như cũ, thần hãy bảo vệ che chở cho dân ta. Kính thay! Ngày 15 tháng 11 năm Tự Đức thứ 3. (1850)

Sắc ban Khai Long sứ | Tự Đức năm thứ 3 | 15/11/1850.
Dịch nghĩa: Sắc ban tặng vị thần Khai Long sứ quân đã ban tặng Huyền Hỗ Thuần Hy diệu cảm, Thần có công lao to lớn giúp nước cứu dân rất linh ứng. Đã từng ban cấp tặng sắc phong chuẩn cho thờ tự. Nay ta lên gánh vác mệnh lớn, nghĩ đến công lao to lớn của Thần giúp nước cứu dân đáng phong tặng thêm là: Vị Thần Huyễn Hỗ Thuần Hy Diệu Cảm Thuần Chính. Giao xã Thuần Trung, huyện Lương Sơn tiếp tục thờ phụng như cũ. Mong thần bảo vệ che chở cho dân ta. Kính thay! Ngày 15 tháng 11 năm Tự Đức thứ 3 (1850).
Với hai sắc phong nói trên được ban cùng ngày, cùng tháng, cùng năm, được lưu giữ tại đền Khai Long và nơi đây có thêm hai câu đối cổ “Phù Quốc An Ninh Trường Lẫm Liệt - Hộ Dân Thịnh Vượng Tối Anh Linh” thì có thể thấy đền Khai Long phối thờ hai vị thần là Tấn Quốc Công Nguyễn Cảnh Hoan và vị thần Khai Long sứ là hợp lý. Hai vị thần là những nhân vật cực kỳ linh thiêng, vì vậy, muốn “thần” linh ứng và bảo vệ, che chở cho con dân thì phải thờ đúng nơi và đúng thần.

