Nhờ mẹ chồng đứng tên chủ sở hữu nhà, có rủi ro không?
Nhờ mẹ chồng đứng tên chủ sở hữu nhà, khi hai vợ chồng ly hôn liệu người vợ có được chia tài sản?
Tin nên đọc





Nhà của con, mẹ đứng tên sở hữu
Đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước để được yêu cầu tư vấn trong một ngày đầu xuân, ánh nắng ấm áp không đủ xua tan đi cái lạnh trong sâu thẳm con tim người phụ nữ ấy.
Lau vội những giọt nước mắt trên gương mặt sạm đen đầy sương gió, chị Trần Thị Tâm (TP Rạch Giá, Kiên Giang) kể cho chúng tôi nghe về hoàn cảnh éo le của mình. 18 tuổi, chị theo chồng từ Bắc vào Nam để lập nghiệp.
Anh làm công nhân, còn chị ở nhà vừa bán tạp hóa vừa chăm sóc mẹ chồng và hai con nhỏ. Thời gian thấm thoắt trôi, ước mơ nhỏ ngày nào về một ngôi nhà khang trang nay cũng đã thành hiện thực.
Ngày đầu tiên bước chân vào ngôi nhà mới, chị nhìn anh mà mắt rưng rưng lệ. Sau khi bàn bạc với nhau, anh chị quyết định để mẹ anh đứng tên sở hữu nhà, bởi cả hai đều biết tính bà rất hay tự ái.
Người đời thường nói “Qua cơn bĩ cực đến hồi thái lai”, nhưng ông trời nào có chiều ý chị, khi một ngày anh đơn phương đòi ly hôn với lý do “không còn tình cảm”.
Lúc này chị mới vỡ lẽ là bấy lâu nay anh đã âm thầm có tình mới bên ngoài. Éo le thay, mẹ chồng chị lại đứng về phía anh.
Không muốn níu kéo cuộc hôn nhân với người chồng bội bạc, nhưng chị lại bế tắc khi nghĩ về tương lai của mình, chẳng biết phải đi đâu, làm gì vì hiện tại ngoài căn nhà ấy ra, chị không còn bất kỳ tài sản nào khác?
Phải chứng minh được công sức đóng góp
Điều 61 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 đã quy định:
“1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này”.
Trường hợp của chị Tâm, có thể thấy rằng cái mà chị nhận được nhiều nhất chỉ là một phần trong tổng giá trị căn nhà do mẹ chồng chị đứng tên, tương ứng với công sức đóng góp của chị vào khối tài sản chung ấy, với điều kiện chị phải chứng minh được công sức này, chẳng hạn như chứng minh về nguồn gốc số tiền mua nhà, xác nhận của chủ thầu/công nhân về sự tham gia của chị trong quá trình sửa chữa nhà…
Ngược lại, nếu không chứng minh được thì có thể chị phải ra đi với hai bàn tay trắng, hoặc phần được chia là rất ít.
Với tư tưởng nhân văn, pháp luật nói chung, pháp luật về hôn nhân và gia đình nước ta nói riêng luôn ưu tiên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho một nhóm đối tượng đặc thù, trong đó có phụ nữ.
Tuy nhiên, muốn được pháp luật bảo vệ thì trước hết người vợ, người mẹ trong gia đình hãy luôn có ý thức tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Tin tưởng, vun vén cho đời sống chung của gia đình chồng là điều tốt đẹp, nhưng bên cạnh đó cũng phải yêu thương và chăm lo cho chính mình để giảm thiểu rủi ro, thua thiệt khi hôn nhân không còn hạnh phúc.











