Ngành Hải quan trọng tâm kiểm tra, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới
Thông qua công tác nghiệp vụ thời gian gần đây, ngành Hải quan phát hiện tình trạng một số đối tượng lợi dụng những phương thức kinh doanh, vận chuyển mới để đưa hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) qua biên giới.

Hàng hóa có thể được chia nhỏ thành các kiện hàng, bưu kiện, gửi qua chuyển phát nhanh, trà trộn với hàng hóa hợp pháp; lợi dụng các loại hình xuất nhập khẩu, quá cảnh, kho ngoại quan, tạm nhập - tái xuất hoặc khai báo chưa đầy đủ thông tin về nhãn hiệu để che giấu hành vi vi phạm.
Theo ngành Hải quan, các vụ việc vi phạm về hàng giả, hàng xâm phạm SHTT xảy ra trên tất cả các tuyến đường bộ, cảng hàng không và cảng biển quốc tế, trong đó thương mại điện tử và kinh tế số đang tạo thêm những phương thức, thủ đoạn mới.
Trước tình hình đó, việc tăng cường kiểm tra, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới, chủ động phát hiện và ngăn chặn từ sớm, từ xa hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT là nhiệm vụ cần được xác định là một trong những trọng tâm của công tác kiểm soát hải quan.
Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát theo hướng chủ động có trọng tâm, trọng điểm: Trước hết, cần chủ động nắm tình hình, thu thập và phân tích thông tin để nhận diện sớm các nguy cơ vi phạm.
Công tác kiểm soát cần được thực hiện trên cơ sở xác định rõ các yếu tố rủi ro gồm: tuyến đường, địa bàn, loại hình xuất nhập khẩu, mặt hàng, doanh nghiệp và phương thức vận chuyển.
Trong đó, cần tập trung vào những loại hình có nguy cơ cao như nhập khẩu kinh doanh, gia công, sản xuất xuất khẩu, quá cảnh, vận chuyển độc lập, tạm nhập – tái xuất, hàng gửi kho ngoại quan và các loại hình phi mậu dịch.
Đây cũng là định hướng được Cục Hải quan chỉ đạo nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời hàng giả, hàng hóa giả mạo nhãn hiệu, gian lận xuất xứ.
Đối với mặt hàng trọng điểm, cần thường xuyên cập nhật danh sách hàng hóa có nguy cơ cao, nhất là quần áo, giày dép, túi xách, phụ tùng ô tô, máy móc, thiết bị, linh kiện điện tử, điện gia dụng, dệt may, da giày, thuốc lá và các mặt hàng có liên quan trực tiếp đến sức khỏe, quyền lợi của người tiêu dùng.
Đối với đối tượng trọng điểm, cần chú ý các doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu mặt hàng rủi ro cao, doanh nghiệp hoạt động theo các loại hình tạm nhập – tái xuất, kho ngoại quan, quá cảnh, phi mậu dịch; doanh nghiệp có lịch sử vi phạm hoặc có dấu hiệu bất thường trong khai báo, trị giá, xuất xứ, nhãn hiệu và tuyến đường vận chuyển.
Chủ động kiểm tra từ khâu hồ sơ: Một trong những giải pháp quan trọng là nâng cao hiệu quả kiểm tra hồ sơ và sàng lọc thông tin ngay từ khi tiếp nhận tờ khai. Cần chủ động rà soát thông tin về tên hàng, nhãn hiệu, xuất xứ, nhà sản xuất, người xuất khẩu, người nhập khẩu và các chứng từ liên quan.
Đối với hàng hóa có nhãn hiệu, cần đối chiếu với thông tin về nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ và kiểm soát biên giới tại Việt Nam; trường hợp phát hiện dấu hiệu nghi vấn cần kịp thời trao đổi, phối hợp với đơn vị chuyên trách để xác minh, xử lý.
Tăng cường kiểm soát các loại hình và tuyến vận chuyển có nguy cơ cao: Chủ động kiểm soát đồng bộ trên các tuyến đường bộ, đường biển, đường hàng không và các tuyến vận chuyển chuyển phát nhanh; đồng thời chú trọng các địa bàn cửa khẩu, cảng biển, cảng hàng không quốc tế và khu vực có hoạt động xuất nhập khẩu, kho ngoại quan, trung chuyển hàng hóa lớn.
Đối với hàng hóa quá cảnh, tạm nhập – tái xuất, kho ngoại quan, chuyển cửa khẩu, vận chuyển độc lập, quà biếu, quà tặng và hàng phi mậu dịch, cần xây dựng tiêu chí rủi ro phù hợp để kiểm soát, kịp thời phát hiện những trường hợp lợi dụng loại hình để che giấu hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT. Áp dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan để kiểm tra, kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu, hành lý, phương tiện xuất nhập cảnh theo tuyến, địa bàn, mặt hàng và đối tượng trọng điểm.
Tập trung kiểm soát hàng hóa chuyển phát nhanh và thương mại điện tử: Đây là lĩnh vực cần có giải pháp riêng do đặc thù số lượng lớn, giá trị từng đơn hàng nhỏ, thông tin khai báo không đầy đủ và tốc độ luân chuyển nhanh.
Thực tế cho thấy các đối tượng có thể chia nhỏ hàng hóa thành nhiều kiện, sử dụng nhiều người nhận, nhiều địa chỉ và nhiều đơn hàng khác nhau nhằm giảm khả năng bị phát hiện.
Vì vậy, nếu chỉ kiểm tra từng tờ khai độc lập sẽ khó nhận diện được mối liên hệ giữa các đơn hàng. Cần tăng cường phân tích dữ liệu theo nhóm: người gửi, người nhận, địa chỉ, số điện thoại, doanh nghiệp vận chuyển, tuyến đường, quốc gia xuất phát, mặt hàng, nhãn hiệu, tần suất gửi hàng và các dấu hiệu bất thường khác.
Tăng cường trao đổi thông tin giữa cơ quan thực thi pháp luật về các nền tảng thương mại điện tử, người vận chuyển, chủ sở hữu nhãn hiệu và các bên liên quan nhằm nâng cao khả năng phát hiện hàng giả.
Nâng cao hiệu quả công tác phối hợp: Một trong những yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả xử lý hàng giả, hàng xâm phạm quyền SHTT là khả năng phối hợp giữa cơ quan Hải quan với chủ thể quyền, cơ quan chuyên môn và các lực lượng chức năng như Cục SHTT; Viện SHTT.
Thực tế thời gian qua cho thấy một số chủ thể quyền chưa cung cấp kịp thời thông tin về hàng thật, dấu hiệu nhận biết hàng giả; việc phối hợp xác nhận hàng giả đối với các lô hàng nhỏ lẻ chuyển phát nhanh còn hạn chế. Điều này gây khó khăn cho quá trình xác minh và xử lý vụ việc.
Do đó, cần xây dựng cơ chế phối hợp thực chất hơn với các chủ thể quyền, trong đó khuyến khích chủ thể quyền cung cấp thường xuyên: Danh sách nhãn hiệu đang được bảo hộ; Thông tin về mẫu mã, bao bì, tem, nhãn và dấu hiệu nhận biết hàng thật; Dấu hiệu nhận biết hàng giả; Thông tin về nhà sản xuất, nhà phân phối được ủy quyền; Thông tin cảnh báo về các tuyến, đối tượng, loại hàng thường bị làm giả; Đầu mối liên hệ để xác minh nhanh khi Hải quan phát hiện dấu hiệu nghi vấn...
Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ: Trong điều kiện số lượng tờ khai ngày càng lớn, phương thức buôn lậu ngày càng tinh vi, việc kiểm tra thủ công toàn bộ hàng hóa là không khả thi.
Vì vậy, ứng dụng công nghệ và phân tích dữ liệu phải trở thành một trong những giải pháp trọng tâm.
Cần từng bước hoàn thiện cơ sở dữ liệu phục vụ kiểm soát hàng giả và hàng xâm phạm quyền SHTT, trong đó tích hợp thông tin về nhãn hiệu được bảo hộ, doanh nghiệp, mặt hàng, tuyến vận chuyển, phương thức thủ đoạn, vụ việc đã phát hiện và thông tin do chủ thể quyền cung cấp.
Trên cơ sở đó, xây dựng các tiêu chí cảnh báo rủi ro, hỗ trợ công chức Hải quan nhanh chóng nhận diện những tờ khai, lô hàng có dấu hiệu bất thường.
Đồng thời, cần nghiên cứu khai thác dữ liệu từ hoạt động thương mại điện tử, chuyển phát nhanh và các nguồn thông tin nghiệp vụ khác để nhận diện mối liên hệ giữa các đơn hàng nhỏ lẻ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy các nền tảng thương mại điện tử đang tăng cường sử dụng thuật toán, học máy và các công cụ phân tích dữ liệu để phát hiện hàng giả.










