Nâng mục tiêu huy động ngân sách nhà nước lên 18% GDP
Chính phủ vừa ban hành quy định sửa đổi, bổ sung một số điều của Chiến lược tài chính đến năm 2030, trong đó điều chỉnh tăng nhiều chỉ tiêu quan trọng nhằm bảo đảm nguồn lực bám sát mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số.

Điều chỉnh các chỉ tiêu tài chính và ngân sách giai đoạn 2026 - 2030
Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đã ký Quyết định số 1119/QĐ-TTg ngày 23/6/2026 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 về ban hành Chiến lược tài chính đến năm 2030. Quyết định mới có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
Theo đó, quy định mới tập trung điều chỉnh các mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể trong Chiến lược tài chính đến năm 2030 theo hướng tăng tỷ lệ huy động vào ngân sách nhà nước giai đoạn 2026 - 2030 thêm 1 - 2 điểm phần trăm GDP, nâng từ mức 16 - 17% lên 18% GDP.
Đồng thời, mục tiêu tỷ trọng thu nội địa cũng được điều chỉnh tăng từ mức 86 - 87% lên 87 - 88%.
Cơ cấu chi ngân sách nhà nước được xác định cụ thể với mục tiêu chi đầu tư phát triển đạt khoảng 40% tổng chi ngân sách, chi thường xuyên chiếm khoảng 51 - 52%.
Cùng với đó, mức bội chi ngân sách đến năm 2030 được điều chỉnh từ khoảng 3% GDP lên khoảng 5% GDP, và trần nợ nước ngoài của quốc gia được nâng từ mức 45% lên 50% GDP.
Đối với khu vực đơn vị sự nghiệp, quyết định bổ sung mục tiêu đẩy mạnh xã hội hóa dịch vụ công, tinh gọn đầu mối và chỉ duy trì các đơn vị thực hiện nhiệm vụ chính trị, dịch vụ công thiết yếu.
Đối với khối doanh nghiệp nhà nước, chiến lược đặt chỉ tiêu đến năm 2030 có 50 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp lọt vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Bổ sung nhóm giải pháp thúc đẩy tốc độ tăng trưởng GDP từ 10%/năm
Nhằm thực hiện mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên, Chính phủ bổ sung các giải pháp toàn diện về hoàn thiện thể chế và bảo đảm nền tảng vĩ mô.
Hoàn thiện thể chế và khơi thông nguồn lực, tập trung rà soát, sửa đổi hệ thống pháp luật liên quan đến nền kinh tế số, công nghệ tài chính, tài sản số, trí tuệ nhân tạo và thương mại điện tử.
Đẩy mạnh số hóa quy trình thủ tục hành chính, liên thông dữ liệu để cắt giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp, phấn đấu đưa môi trường đầu tư Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028.
Phát triển các thành phần kinh tế, khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong bảo đảm ổn định vĩ mô; đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo chuẩn mực quốc tế, đẩy mạnh cổ phần hóa, thoái vốn đúng quy định.
Đồng thời, triển khai các cơ chế đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân, hỗ trợ khả năng tiếp cận tài chính, tín dụng và tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ linh hoạt, đó là xây dựng chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng gắn với kiểm soát lạm phát.
Quản lý chi ngân sách chặt chẽ, triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, hạn chế tối đa việc xây dựng trụ sở hay trung tâm hành chính mới để ưu tiên bố trí vốn cho đầu tư phát triển, quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội.
Nâng cao năng lực tài chính quốc gia. Áp dụng hiệu quả Luật Quản lý nợ công, điều hành linh hoạt các công cụ vay để giảm chi phí và áp dụng giải pháp nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Nghiên cứu ban hành cơ chế đặc thù phát triển các mô hình kinh tế mới, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, thị trường tín chỉ các-bon và hệ thống hạ tầng chiến lược như đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân, điện gió ngoài khơi nhằm tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững.










