Đề xuất rút gọn quy trình trở thành luật sư từ 4 bước xuống 2 bước
Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng cho biết dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi) cho phép giảng viên luật có thể trở thành luật sư; rút gọn quy trình trở thành luật sư từ 4 bước xuống 2 bước.

Nâng chuẩn luật sư: Cần tiêu chí rõ để tránh tùy nghi
Chiều 27/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).
Một trong những nội dung đáng chú ý là việc bổ sung các tiêu chuẩn mới đối với người hành nghề luật sư, cùng với những thay đổi căn bản trong quy trình trở thành luật sư.
Theo Bộ trưởng Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, dự thảo luật bổ sung tiêu chuẩn luật sư theo hướng phải có bản lĩnh chính trị, có đạo đức tốt và liêm chính.
Luật sư cũng được đặt ra yêu cầu bồi dưỡng hằng năm về nhận thức chính trị và chuyên môn.

Theo dự thảo, một trong những tiêu chuẩn mới đối với luật sư là “có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực”.
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp Phan Chí Hiếu cho biết Thường trực Ủy ban tán thành việc bổ sung tiêu chuẩn này.
Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục nghiên cứu, làm rõ nội hàm của các tiêu chuẩn nêu trên, đồng thời có quy định phù hợp tại dự thảo nghị định nhằm bảo đảm tính thống nhất trong quá trình thực hiện.

Đáng chú ý, có ý kiến cho rằng việc quy định tiêu chuẩn “kiên quyết bảo vệ công lý, liêm chính và trung thực” tương tự một số chức danh tư pháp trong bộ máy Nhà nước cần được nghiên cứu kỹ hơn.
Vấn đề này càng trở nên đáng lưu ý khi các tiêu chuẩn mới có thể liên quan trực tiếp đến quá trình cấp, quản lý hoặc thu hồi chứng chỉ hành nghề luật sư.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh mục tiêu của việc sửa đổi là xây dựng đội ngũ luật sư có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và năng lực chuyên môn.

Theo Chủ tịch Quốc hội, yêu cầu về bản lĩnh chính trị vững vàng là điểm mấu chốt, phù hợp với Nghị quyết 27 của Trung ương và các kết luận của Trung ương về xây dựng đội ngũ luật sư.
Tuy nhiên, Chủ tịch Quốc hội lưu ý không nên để các tiêu chuẩn mang tính định tính, bởi nếu không có tiêu chí cụ thể, việc áp dụng có thể dẫn tới nguy cơ tùy nghi trong cấp hoặc thu hồi chứng chỉ hành nghề.
Do đó, cần nghiên cứu để định nghĩa, lượng hóa thành những tiêu chí có thể đánh giá, đo lường được.
Đây không chỉ là câu chuyện kỹ thuật lập pháp. Với nghề luật sư, chứng chỉ hành nghề là điều kiện pháp lý đặc biệt quan trọng để một cá nhân được tham gia hoạt động nghề nghiệp.
Vì vậy, mọi tiêu chí được sử dụng làm căn cứ cấp, hạn chế hoặc thu hồi chứng chỉ đều cần có tính minh bạch, khả năng kiểm chứng và cách hiểu thống nhất.
Rút quy trình trở thành luật sư từ 4 bước xuống 2 bước
Một điểm mới đáng chú ý khác là dự thảo luật đề xuất rút gọn quy trình trở thành luật sư từ 4 bước xuống còn 2 bước.
Cụ thể, bước gia nhập Đoàn luật sư và đăng ký tập sự được gộp thành gia nhập Đoàn luật sư để tập sự.
Việc kiểm tra kết quả tập sự và cấp chứng chỉ hành nghề được gộp theo hướng tổ chức kỳ thi quốc gia cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.
Theo dự thảo, sau khi hoàn thành thời gian tập sự hành nghề luật sư, luật sư tập sự được tham dự kỳ thi quốc gia về luật sư để được cấp chứng chỉ hành nghề. Chính phủ sẽ quy định việc tổ chức kỳ thi này.
Cách thiết kế mới được kỳ vọng đơn giản hóa thủ tục, giảm các khâu trung gian và tạo một cơ chế đánh giá thống nhất hơn đối với người muốn gia nhập nghề luật.
Đồng thời, dự thảo cũng mở rộng khả năng gia nhập nghề khi cho phép giảng viên luật có thể trở thành luật sư.
Một nội dung khác là luật sư tập sự có thể thực hiện một số hoạt động nghề nghiệp theo sự phân công, giám sát của luật sư hướng dẫn và phải được khách hàng đồng ý.
Quy định này đặt ra yêu cầu phải xác định rõ phạm vi công việc mà luật sư tập sự được thực hiện, trách nhiệm của luật sư hướng dẫn cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh nếu hoạt động của luật sư tập sự gây thiệt hại cho khách hàng hoặc ảnh hưởng đến quá trình tố tụng.
“Tiến thoái lưỡng nan” giữa bảo mật thông tin và tố giác tội phạm
Một vấn đề pháp lý được Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đặc biệt lưu ý là sự xung đột giữa nghĩa vụ bảo mật thông tin của luật sư và trách nhiệm hình sự liên quan đến việc không tố giác tội phạm.
Theo ông Diên, Điều 6 của dự thảo Luật Luật sư quy định nghiêm cấm luật sư sử dụng thông tin từ khách hàng để gây bất lợi cho chính khách hàng đó trong một vụ việc khác.
Trong khi đó, khoản 3 Điều 19 Bộ luật Hình sự quy định người bào chữa có thể phải chịu trách nhiệm hình sự nếu không tố giác thân chủ về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác.
Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, sự giao thoa giữa hai nhóm quy định này có thể đẩy luật sư vào tình thế “tiến thoái lưỡng nan”.
Một bên là nghĩa vụ bảo mật thông tin của khách hàng - yếu tố nền tảng của quan hệ luật sư và thân chủ.
Bên kia là nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, trong đó có trách nhiệm tố giác trong những trường hợp mà pháp luật hình sự quy định.
Nếu không xác định rõ ranh giới, luật sư có thể phải lựa chọn giữa việc giữ bí mật để thực hiện đúng nghĩa vụ nghề nghiệp và việc cung cấp thông tin để tránh nguy cơ chịu trách nhiệm hình sự.
Từ vấn đề này, ông Diên đề xuất cần xác định rõ những trường hợp ngoại lệ của nghĩa vụ bảo mật ngay trong dự thảo Luật Luật sư. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế bảo vệ luật sư khi họ thực hiện đúng các quy định của pháp luật.
Đây được xem là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi nghĩa vụ bảo mật không chỉ là yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp mà còn là nền tảng tạo dựng niềm tin giữa luật sư và khách hàng. Nếu phạm vi bảo mật không rõ ràng, luật sư có thể gặp rủi ro pháp lý ngay trong quá trình thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng.
Ngược lại, nếu quy định bảo mật được hiểu theo hướng tuyệt đối, có thể phát sinh khoảng trống đối với những trường hợp pháp luật hình sự buộc người bào chữa phải thực hiện nghĩa vụ tố giác.
Vì vậy, việc sửa đổi Luật Luật sư lần này cần đồng thời giải quyết hai yêu cầu: nâng chuẩn đội ngũ luật sư nhưng phải tạo ra những chuẩn mực pháp lý minh bạch; tăng trách nhiệm nghề nghiệp nhưng phải bảo đảm cơ chế bảo vệ người hành nghề khi họ tuân thủ pháp luật.
Đặc biệt, đối với các tiêu chuẩn như “bản lĩnh chính trị vững vàng”, “liêm chính”, “trung thực” hay “kiên quyết bảo vệ công lý”, nếu được sử dụng làm căn cứ pháp lý để đánh giá điều kiện hành nghề thì cần được cụ thể hóa, tránh để những khái niệm có tính định tính trở thành căn cứ dẫn tới cách hiểu và áp dụng khác nhau.
Đây cũng chính là một trong những vấn đề cần được tiếp tục làm rõ trong quá trình hoàn thiện dự thảo Luật Luật sư (sửa đổi).















