
Theo dòng lịch sử, làng Chuông trước đây có tên cổ là Trang Thì Trung (vào đầu thế kỷ XIX gọi là xã Thì Trung).
Đến năm Tự Đức nguyên niên (1848), do kiêng tên húy của vua Tự Đức là Nguyễn Phúc Thì, ngôi làng chính thức được đổi tên thành xã Phương Trung, thuộc tổng Phương Trung, phủ Ứng Hòa, trấn Sơn Nam Thượng và giữ nguyên tên gọi đó cho tới ngày nay.
Cho đến nay, chưa có sử sách nào ghi chép lại chính xác người đã khai sinh ra nghề nón tại làng Chuông.
Tuy nhiên, theo lời kể của các bậc cao niên trong làng và sự xác nhận của nhiều chuyên gia văn hóa, nghề làm nón tại đây đã tồn tại và phát triển rực rỡ nhất trong hơn 300 năm qua.
Thậm chí, nhiều tư liệu dân gian còn cho rằng mầm mống của nghề đan nón tại vùng đất này đã bắt đầu nhen nhóm từ thế kỷ thứ 8.

Vào thời kỳ hưng thịnh nhất, làng Chuông không chỉ sản xuất những chiếc nón lá phục vụ người lao động nông nghiệp mà còn chế tác ra nhiều dòng nón cao cấp như nón quai thao, nón chóp dứa,...
Đặc biệt, nhờ kỹ nghệ tinh xảo, nón làng Chuông từng được chọn làm sản vật cúng tiến cho hoàng hậu và các công chúa trong chốn cung đình.
Chợ Chuông không đơn thuần chỉ là nơi mua bán nón lá mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa dân gian của cả vùng từ hàng trăm năm trước.
Vào ngày mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm, nơi đây diễn ra lễ hội làng với những hoạt động văn hóa đặc sắc vẫn còn lưu truyền qua câu ca dao cổ.
"Mồng mười đi chợ Chuông chơi,
Xem đánh cờ người xem thổi cơm thi".
Trải qua hàng trăm năm, những vật liệu quen thuộc như lá nón, khung tre, sợi cước vẫn hiện diện trong đời sống sinh hoạt của người dân, góp phần tạo nên dấu ấn đặc trưng của làng nghề.
Trong bối cảnh đời sống hiện đại biến chuyển nhanh chóng, chợ nón làng Chuông vẫn được duy trì đều đặn vào các ngày mồng 4, 10, 14, 20, 24 và 30 âm lịch hằng tháng.
Phiên chợ không chỉ là nơi mua bán mà còn là không gian lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống của làng quê Bắc Bộ.

Từ khi trời còn lờ mờ sáng, người dân đã mang nón ra chợ. Những gánh hàng nối nhau, tạo nên khung cảnh nhộn nhịp nhưng vẫn giữ được nét bình dị.
Phiên chợ diễn ra trong nhịp điệu vội vã quen thuộc, như đã lặp lại trong hơn 300 năm qua.

Khác với nhiều chợ phiên truyền thống người mua tìm đến người bán khác, tại đây, người bán đội trên đầu những chiếc nón đã thành hình, đi dọc quanh sân đình làng để tìm người mua.
Để tạo nên một chiếc nón hoàn chỉnh, các công đoạn từ chọn vành, làm khung đến chằm nón đều đòi hỏi sự tỉ mỉ.
Những chiếc vành nón phải tròn, chắc, không gợn lỗi; nhiều công đoạn còn được thực hiện ngay tại phiên chợ.

Khi mua, những người bán lành nghề thường hỏi cỡ mũ để tư vấn cho người mua để lựa chọn kích cỡ vòng nón phù hợp.
Ở đây, người làng Chuông coi nghề nón như một nghề truyền thống để lưu truyền nét đẹp bản sắc nên không ai giấu nghề.
Khi những người trẻ tới trò chuyện, các bà các chị cũng nhiệt tình chia sẻ về quy trình làm nón như một niềm tự hào của làng.
Cô Oánh (70 tuổi) bắt đầu nghề làm nón từ năm 14 tuổi chia sẻ:
“Làm nhiều thành ra quen tay nên cũng chịu khó tranh thủ mấy phiên chợ buổi sáng này ra đây kiếm lời được bao nhiêu thì kiếm”.

Được biết, công việc chính của gia đình cô Oánh là làm nông, song những phiên chợ nón vẫn là dịp để cô tiếp tục gắn bó với nghề truyền thống.
Nón lá nơi đây không chỉ nổi tiếng trong vùng mà còn được cả nước biết tới bởi những chiếc nón được làm ra chắc, khoẻ, bền, thanh và đẹp. Vậy nên, dân ta từ lâu đã có câu ca dao được lưu truyền.
“Muốn ăn cơm trắng cá trê
Muốn đội nón tốt thì về làng Chuông…”

Cô Thương chia sẻ:
“Làm nón thì thu nhập cũng không nhiều, nhưng có việc để làm, có đồng ra đồng vào. Nón của làng mình giờ bán đi nhiều nơi, có khi còn xuất ra nước ngoài, nên ai cũng thấy vui vì nghề vẫn còn được giữ.”
Theo chia sẻ của mọi người bán nón lá ở Chợ Chuông, thời điểm hiện nay, giá nón đang được giá với cả bán cũng được nhiều bởi tầm cuối tháng 3, đầu tháng 4 này, nhu cầu sử dụng nón tăng cao do bước vào mùa cấy với gặt lúa nên sức mua cũng nhộn nhịp.
Giá của một chiếc nón dao động từ 40.000 - 150.000 đồng tuỳ theo độ chuẩn của dáng nón. Giá của những chiếc nón thường thì đã được quyết định từ khâu chọn vòng nón.
Từ hình ảnh nón lá tại làng quê giản dị đến những chiếc nón lá mang hơi thở đương đại
Hiện nay, mẫu mã của nón Chuông được người dân sáng tạo với đa dạng hình thù khác nhau để phù hợp hơn với thị hiếu của khách hàng.
Mỗi chiếc nón lá làng Chuông giờ đây Những chiếc nón được vẽ họa tiết, trang trí tỉ mỉ, trở thành sản phẩm vừa mang tính ứng dụng vừa mang giá trị thẩm mỹ.

Bạn Trang (sinh năm 2004, tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền) chia sẻ:
“Mình không nghĩ những chiếc nón mà mẹ mình hay sử dụng đi chợ lại có những phiên bản đáng yêu như vậy. Nó mang đến cho mình những cảm xúc vừa quen thuộc mà cũng mới lạ.”

Giữa nhịp sống hối hả của đời sống hiện đại, nghề nón làng Chuông vẫn âm thầm tồn tại như một nét vẽ nên nét đẹp của làng quê Bắc Bộ.
Không ồn ào, không phô trương, chính sự lặp lại đều đặn của từng phiên chợ, sự gắn bó của người dân với nghề đã góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống.
Từ những chiếc nón giản dị, một làng nghề vẫn đang từng ngày kể tiếp câu chuyện của mình trong đời sống đương đại.
Thực hiện: Minh Huyền - Phạm Duy

