
Hơn 20 năm gắn bó với những bản làng vùng cao còn nhiều gian khó của tỉnh Tuyên Quang, Chấp hành viên Hồ Hữu Thành đã dành trọn tuổi thanh xuân cho công tác thi hành án dân sự. Trên hành trình ấy, anh không chỉ được biết đến là một cán bộ tận tụy, trách nhiệm, luôn kiên trì đưa các bản án vào cuộc sống, mà còn là người mang trong mình tấm lòng nhân ái, sẻ chia với những phận đời kém may mắn.

Ngồi trò chuyện với tôi bên bàn trà trong một buổi chiều yên ả, anh Hồ Hữu Thành (SN 1974) - Trưởng Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6, tỉnh Tuyên Quang, chậm rãi kể về những năm tháng tuổi trẻ đã gửi lại nơi vùng đá xám Mèo Vạc. Hơn hai mươi năm đã trôi qua, nhưng mỗi khi nhắc đến quãng thời gian ấy, anh vẫn có cảm giác như mới hôm qua.
"Đến giờ tôi vẫn không nghĩ tuổi trẻ của mình lại gắn bó lâu đến thế với một nơi bốn bề là đá, quanh năm thiếu nước và cuộc sống còn nhiều gian khó như vậy"
Năm 2002, sau 5 năm học tập tại Đại học Luật Hà Nội, anh Thành được tuyển dụng vào ngành Tư pháp và nhận nhiệm vụ đầu tiên tại cơ quan Thi hành án dân sự huyện Mèo Vạc (cũ), sau sáp nhập là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 tỉnh Tuyên Quang. Sinh ra ở vùng quê Sơn Dương, rồi nhiều năm học tập tại Thủ đô, anh từng nghĩ mình đã hình dung được những khó khăn của miền núi. Nhưng khi đặt chân lên Cao nguyên đá Đồng Văn, thực tế vẫn vượt xa những gì anh tưởng tượng.
Con đường lên Mèo Vạc ngày ấy chỉ rộng khoảng bốn mét, mặt đường rải đá cấp phối gập ghềnh. Một bên là vách núi dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút. Chuyến xe đầu tiên đưa chàng cán bộ trẻ đến nơi nhận công tác khiến anh vừa hồi hộp vừa lo lắng.
"Hồi ấy đi đường chỉ sợ sơ suất là lao xuống vực. Đến nơi rồi mà chân tay vẫn còn run. Nhưng đó mới chỉ là ấn tượng ban đầu. Sống lâu ở đó mới hiểu hết những thiếu thốn, nhọc nhằn mà bà con và cán bộ vùng cao phải đối mặt hằng ngày"
Khó khăn hiện hữu ngay trong những sinh hoạt thường nhật. May mắn được bố trí ở khu tập thể cán bộ, nhưng điều khiến anh ám ảnh nhất lại là chuyện nước sinh hoạt. Trên vùng Cao nguyên đá năm ấy, nước quý chẳng khác nào vàng. Nguồn nước chủ yếu trông chờ vào những cơn mưa hiếm hoi. Mùa mưa còn có thể chắt chiu dành dụm, nhưng đến mùa khô, việc thiếu nước trở thành nỗi lo thường trực.
"Nhiều khi ba, bốn ngày mới dám tắm một lần. Nước rửa rau cũng không nỡ đổ đi mà giữ lại để rửa tay, rửa chân. Cuộc sống lúc đó thực sự rất thiếu thốn"

Nhưng với anh Thành, điều khó vượt qua nhất trong những ngày đầu công tác không phải là thiếu nước hay những con đường cheo leo, mà là nỗi nhớ nhà. Thời điểm ấy chưa có điện thoại di động như bây giờ. Mọi thông tin liên lạc với gia đình đều gửi gắm qua những lá thư tay mất nhiều ngày mới tới nơi.
Có những lúc công việc dồn dập, vài tháng anh mới thu xếp về thăm nhà một lần. Thế nhưng không ít lần, dự định đoàn tụ với gia đình lại dang dở vì mưa lớn gây sạt lở trên các tuyến đường vùng cao.
"Nhớ nhà lắm, có khi chuẩn bị về rồi nhưng mưa xuống, đường sạt lở, đi được nửa đường lại phải quay lại cơ quan. Đành hẹn bố mẹ vào dịp khác"
Mải miết với công việc, chuyện lập gia đình của anh cũng muộn hơn bạn bè cùng trang lứa. Trong những lá thư gửi lên vùng cao, bố mẹ anh hầu như lần nào cũng nhắc chuyện lấy vợ. Những dòng chữ quen thuộc như: "Con có người yêu chưa?", "Bao giờ cưới vợ?? hay "Nếu chưa có thì để bố mẹ hỏi giúp cô hàng xóm..." khiến anh vừa thương vừa thấy có lỗi với đấng sinh thành.
Thế rồi, giữa vùng đá xám khắc nghiệt ấy, duyên số bất ngờ mỉm cười với anh. Trong một phiên chợ Chủ nhật ở Mèo Vạc, anh gặp cô giáo Nguyễn Thị Hằng, người dân tộc Tày quê ở xã Đạo Đức, huyện Vị Xuyên (cũ), nay là xã Vị Xuyên, tỉnh Tuyên Quang.
"Cùng sống và làm việc nơi vùng cao, cùng trải qua những thiếu thốn, vất vả và nỗi nhớ quê, chúng tôi dần đồng cảm rồi nảy sinh tình cảm"
Từ những lần gặp gỡ giản dị nơi chợ phiên vùng cao, câu chuyện tình của chàng cán bộ thi hành án và cô giáo cắm bản đã đơm hoa kết trái. Giữa mênh mông đá núi và những tháng ngày gian khó, họ trở thành điểm tựa của nhau, cùng viết tiếp hành trình lập nghiệp, dựng xây tổ ấm nơi vùng cao gian khó.

Những năm đầu công tác trên Cao nguyên đá Đồng Văn, khi du lịch chưa phát triển, Mèo Vạc vẫn là vùng đất xa xôi, biệt lập. Không có những dòng xe du lịch nối dài hay những đoàn khách trong và ngoài nước tấp nập như hôm nay, nơi đây chỉ có đá núi, gió lạnh và những bản làng cheo leo bên sườn núi.
Hơn hai thập kỷ gắn bó với vùng cao, anh Hồ Hữu Thành không chỉ là người thực thi pháp luật mà còn là nhân chứng của biết bao phận đời nghèo khó. Những chuyến đi cơ sở đã giúp anh hiểu rằng phía sau mỗi bản án không chỉ là trách nhiệm pháp lý, mà còn là những câu chuyện mưu sinh đầy nhọc nhằn của đồng bào nơi địa đầu Tổ quốc.
Nhắc về những vụ việc để lại anh nhiều ấn tượng nhất, anh Thành kể câu chuyện xảy ra vào năm 2006 tại xã Lũng Pù (cũ). Hôm đó, anh cùng trưởng thôn đến nhà một người đàn ông dân tộc Mông vừa chấp hành xong án phạt tù trở về địa phương để vận động thực hiện nghĩa vụ thi hành án.
Ngôi nhà nằm nép mình giữa núi đá. Mái tranh đã cũ, vách nứa xiêu vẹo, bên trong gần như không có tài sản gì đáng giá ngoài vài vật dụng sinh hoạt đơn sơ. Khung cảnh ấy khiến người chấp hành viên trẻ không khỏi chạnh lòng.
"Người đàn ông ấy rất gầy gò. Khoản phí phải thi hành chỉ là 50 nghìn đồng án phí hình sự sơ thẩm liên quan đến một vụ trộm cắp tài sản. Số tiền ấy với nhiều người không đáng là bao, nhưng với gia đình họ khi ấy là cả một gánh nặng"
Quan sát quanh nhà không thấy trâu bò, gia súc hay bất cứ tài sản nào có giá trị, anh hiểu cuộc sống của gia đình này đang ở đáy của sự khó khăn. Hình ảnh đứa trẻ mới vài tháng tuổi nằm trong vòng tay mẹ càng khiến anh day dứt.
Người đàn ông phải chạy vạy khắp nơi để vay đủ số tiền nộp án phí. Khi hoàn thành nhiệm vụ, trước lúc ra về, anh Thành lặng lẽ gửi lại 100 nghìn đồng như một món quà mừng tuổi cho đứa trẻ.
"Tôi chỉ nghĩ đơn giản rằng công việc của mình đã hoàn thành. Còn họ lúc ấy khó khăn hơn mình rất nhiều"

Một năm sau, anh lại gặp một hoàn cảnh tương tự. Năm 2007, trong chuyến công tác xuống một thôn vùng sâu của huyện Mèo Vạc, anh cùng cán bộ xã vận động một người đàn ông dân tộc Mông vừa chấp hành xong án phạt tù thực hiện nghĩa vụ nộp 50 nghìn đồng án phí hình sự.
Khoản tiền ấy thời điểm đó có thể mua được vài cân gà. Người đàn ông đi khắp bản làng hỏi vay nhưng không ai cho vay. Có thể vì nghèo khó, cũng có thể bởi mặc cảm sau những năm tháng cải tạo.
"Tôi ngồi chờ hàng giờ đồng hồ mà anh ấy vẫn không vay được tiền. Nhìn quanh chỉ thấy một con gà đang ăn ngô trước sân. Nghĩ mãi rồi tôi quay sang đề nghị anh cán bộ xã đi cùng mua giúp gia đình con gà ấy. May sao anh ấy bảo tối nhà có khách nên đồng ý mua luôn. Nhờ vậy gia đình có tiền nộp án phí, còn mình cũng hoàn thành nhiệm vụ"
Năm 2018, khi giữ cương vị Chi cục trưởng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xín Mần (cũ), anh lại gặp một trường hợp khiến mình trăn trở. Đó là một hộ dân tại xã Bản Ríu thua kiện trong vụ tranh chấp đất đai và phải nộp hơn 900 nghìn đồng án phí.
Sau nhiều lần vận động, gia đình nghẹn ngào nói với anh rằng tài sản đáng giá nhất trong nhà chỉ còn một con chó nặng khoảng 12kg.
"Nghe họ nói mà mình không biết phải xử lý thế nào. Cuối cùng lại phải nhờ cán bộ xã đi cùng mua giúp con chó ấy để gia đình có tiền thực hiện nghĩa vụ theo bản án"
Những câu chuyện tưởng như rất nhỏ ấy lại phản ánh chân thực cuộc sống của đồng bào vùng cao. Với nhiều gia đình nơi đây, vài chục nghìn hay vài trăm nghìn đồng đôi khi là khoản tiền phải tích góp trong nhiều tháng.
"Người dân vùng cao không phải ai cũng cố tình chây ì hay trốn tránh nghĩa vụ đâu. Nhiều trường hợp thực sự không còn gì để nộp. Làm nghề này, ngoài việc nắm chắc pháp luật còn phải biết đặt mình vào hoàn cảnh của người dân để tìm cách tháo gỡ"
Trong ký ức của người chấp hành viên với hơn 20 năm tuổi nghề còn có câu chuyện của Phượng Tà C., một thanh niên dân tộc Dao đỏ ở xã Quảng Nguyên.
Sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương, C. không may vướng vào vòng lao lý vì một sự việc ngoài mong muốn. Năm 2024, bố của C. đi rừng hái thảo quả và bắt được hai con rùa vàng. Nghĩ rằng đây chỉ là loài động vật bình thường có thể bán lấy tiền, gia đình đăng thông tin lên mạng xã hội rồi mang xuống Hà Nội giao dịch. Sau đó vụ việc bị phát hiện và xử lý theo quy định của pháp luật.
Khi bản án có hiệu lực, gia đình phải nộp 3 triệu đồng truy thu sung công quỹ Nhà nước. Với một hộ dân miền núi còn nhiều khó khăn, đó là khoản tiền không hề nhỏ.
"Gia đình phải vay mượn khắp nơi mới đủ tiền thi hành án. Thấy hoàn cảnh khó khăn, lại có con nhỏ, anh em ở xã và chúng tôi sau đó góp nhau ít tiền, lấy lý do mừng tuổi cháu để hỗ trợ gia đình"
Suốt hơn hai mươi năm làm nghề, những câu chuyện như thế không phải là hiếm. Có những bản án khép lại bằng những con số trên giấy tờ, nhưng cũng có những vụ việc để lại trong lòng người chấp hành viên những day dứt và sự cảm thông với những phận đời còn nhiều thiếu thốn. Có lẽ vì thế mà đồng nghiệp vẫn thường nói, đằng sau sự cương quyết của người thực thi pháp luật, anh Hồ Hữu Thành luôn giữ cho mình một trái tim nhân hậu dành cho người dân nghèo nơi vùng cao biên viễn.

Hơn 20 năm gắn bó với ngành Thi hành án dân sự, anh Hồ Hữu Thành đã trải qua nhiều vị trí công tác khác nhau, nhưng điểm chung là tất cả đều ở những địa bàn khó khăn bậc nhất của vùng cao biên giới. Từ Mèo Vạc, Xín Mần cho đến Hoàng Su Phì hôm nay, dấu chân của người chấp hành viên ấy vẫn miệt mài in trên những cung đường núi đá quanh co, nơi cuộc sống của đồng bào còn nhiều thiếu thốn.
Sau đợt sắp xếp tổ chức bộ máy từ ngày 1/7/2025, hai đơn vị Thi hành án dân sự Hoàng Su Phì và Xín Mần được hợp nhất thành Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6. Trên cương vị Trưởng Phòng, anh Thành đảm nhiệm địa bàn rộng lớn trải dài qua nhiều xã vùng cao, biên giới. Có những chuyến công tác phải vượt hàng trăm kilômét đường đèo dốc, mất nhiều ngày mới hoàn thành nhiệm vụ rồi trở về cơ quan.

"Ngày trước làm việc trong phạm vi một huyện đã thấy xa. Bây giờ địa bàn rộng hơn rất nhiều. Đường vùng cao không như miền xuôi, mùa mưa thường xảy ra sạt lở, chia cắt. Có những vụ việc phải đi cả ngày đường mới tiếp cận được đương sự"
Khó khăn không chỉ đến từ địa hình hiểm trở. Theo anh Thành, cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn nhân lực hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tiễn. Sau khi tinh gọn bộ máy, khối lượng công việc tăng lên trong khi điều kiện làm việc của cán bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Trụ sở làm việc chưa được đầu tư đồng bộ, nhiều cán bộ ở xa phải khắc phục khó khăn để bám địa bàn, hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Thế nhưng, sau hơn hai thập kỷ làm nghề, điều khiến anh trăn trở nhất vẫn là làm sao để mỗi bản án được thực thi một cách thấu tình, đạt lý.
"Làm nghề này không thể chỉ ngồi trong phòng làm việc. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ, chấp hành viên phải đến tận bản làng, gặp gỡ người dân, hiểu phong tục tập quán, hiểu hoàn cảnh và cách nghĩ của từng cộng đồng dân tộc. Có như vậy mới tìm được cách vận động, thuyết phục phù hợp"
Theo anh Thành, thi hành án ở vùng cao không đơn thuần là áp dụng các quy định pháp luật hay sử dụng biện pháp cưỡng chế. Đằng sau mỗi quyết định thi hành án là những gia đình đang chật vật mưu sinh, là những người dân còn hạn chế nhận thức pháp luật, là những số phận cần được lắng nghe và chia sẻ.
Bởi vậy, trong suốt hành trình công tác, anh luôn lựa chọn cách dung hòa giữa sự nghiêm minh của pháp luật với tinh thần nhân văn, giữa trách nhiệm của người thực thi công vụ với sự cảm thông dành cho những hoàn cảnh khó khăn.
Nhìn lại hơn 20 năm bền bỉ nơi vùng cao biên viễn, anh Hồ Hữu Thành không coi những việc mình làm là điều gì lớn lao. Nhưng chính sự tận tụy, trách nhiệm và lòng nhân ái ấy đã góp phần đưa pháp luật đến gần hơn với người dân, để những bản án không chỉ được thực thi bằng lý lẽ của luật pháp mà còn bằng hơi ấm của tình người.
Giữa những dãy núi trùng điệp nơi cực Bắc Tổ quốc, người chấp hành viên ấy vẫn lặng lẽ bước tiếp trên hành trình của mình. Và có lẽ, điều quý giá nhất anh giữ được sau hơn hai thập kỷ làm nghề không phải là những thành tích hay chức vụ, mà là sự tin yêu của người dân và niềm tin rằng công lý sẽ trở nên gần gũi hơn khi được thực thi bằng cả trách nhiệm lẫn trái tim.
Thực hiện: Phàn Giào Họ

