Việc khởi tố vụ án hình sự là một bước quan trọng và cần thiết trong hệ thống pháp luật của nước ta. Vậy khi nào thì không cần khởi tố vụ án hình sự trong giải quyết một vụ việc?
Bạn đọc Lê Văn V. (Nghệ An) hỏi: Khởi tố vụ án là gì? Trong quá trình giải quyết vụ án, khi nào thì cơ quan điều tra không cần khởi tố vụ án?
Pháp luật Plus trả lời:
Khởi tố hình sự là gì?
Việc khởi tố vụ án hình sự là một bước quan trọng và cần thiết trong hệ thống pháp luật của nước ta, đặc biệt khi liên quan đến các tội phạm nói chung và các tội xâm phạm quyền công dân.
Điều này đồng nghĩa với việc bảo vệ quyền con người và quyền công dân trước những hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo rằng mọi người đều được coi trọng và bảo vệ trong tình hình hợp pháp.
|
Việc khởi tố vụ án hình sự là một bước quan trọng và cần thiết trong hệ thống pháp luật của nước ta. (Hình minh họa) |
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2021 chính là tài liệu quy định rõ ràng về căn cứ và cơ sở của quá trình khởi tố vụ án hình sự.
Nó xác định các nguyên tắc và quy định mà các cơ quan chức năng phải tuân theo khi xem xét việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án. Điều này đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong quá trình đưa ra quyết định liên quan đến việc tiến hành vụ án hình sự.
Thẩm quyền và trình tự thủ tục trong việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự được thiết lập để đảm bảo rằng quyền con người và quyền công dân được bảo vệ.
Những quyết định này không được đưa ra một cách tùy tiện, mà phải dựa trên bằng chứng và luật pháp. Điều này đảm bảo rằng người phạm tội sẽ có cơ hội bảo vệ quyền của họ và không bị kỳ thị hay bị xem thường.
Các trường hợp không khởi tố vụ án hình sự
Theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các trường hợp không khởi tố vụ án hình sự gồm:
1. Không có sự việc phạm tội: Điều này ám chỉ rằng không có thông tin về tội phạm nào xảy ra hoặc các thông tin về tội phạm là không chính xác. Các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm kiểm tra và đảm bảo rằng không có sự việc xảy ra như thông tin đã được báo cáo, hoặc rằng sự việc đó không có dấu hiệu của tội phạm.
2. Hành vi không cấu thành tội phạm: Điều này đề cập đến việc hành vi không thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của một tội phạm cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự. Cấu thành tội phạm bao gồm các yếu tố quan trọng cần có để xem xét việc xem hành vi đó là một tội phạm.
3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Theo đó, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về một số tội phạm nghiêm trọng.
4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật: Nguyên tắc không áp dụng án hai lần cho cùng một tội phạm, do đó, cơ quan có thẩm quyền không được khởi tố vụ án hình sự đối với người mà hành vi của họ đã được xem xét và có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật.
5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự: Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn quy định bởi BLHS cho việc tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Khi hết thời hạn đó, người phạm tội không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
6. Tội phạm đã được đại xá: Đại xá là một biện pháp khoan hồng đặc biệt do Quốc hội quyết định, và nó ám chỉ sự tha hoàn toàn đối với một loạt người phạm tội đã phạm một hoặc một số loại tội phạm cụ thể. Tội phạm đã được đại xá là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác: Mục đích của việc áp dụng trách nhiệm hình sự và hình phạt là giáo dục và ngăn ngừa người phạm tội khỏi việc tái phạm. Do đó, nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, cơ quan có thẩm quyền không thể áp dụng trách nhiệm hình sự đối với họ, trừ khi có lý do đặc biệt để tái thẩm đối với người khác.
8. Tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật Hình sự mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết không yêu cầu khởi tố: Các tội phạm mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Cơ quan có thẩm quyền chỉ tiến hành tố tụng khi có yêu cầu từ phía bị hại hoặc người đại diện của bị hại.
Mọi câu hỏi và tư vấn pháp luật cần được giải đáp, bạn đọc có thể gọi điện theo số: 0904309996; hoặc gửi Email: toasoan@phapluatplus.vn. |