
Ông Trần Quang Minh - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tuyên Quang cho rằng, để nghị quyết của Đảng thực sự đi vào cuộc sống, nhất là ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, khâu tổ chức thực hiện phải được đặt lên hàng đầu. Nghị quyết cần được cụ thể hóa bằng những chương trình hành động rõ ràng, sát thực tế, gắn với trách nhiệm của từng cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị ngày 3/9, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khẳng định: Hội nghị không chỉ dừng lại ở quán triệt mà mở ra giai đoạn có ý nghĩa quyết định là tổ chức thực hiện. Từng cấp ủy, cơ quan, địa phương và mỗi cán bộ, đảng viên phải rõ việc, rõ người, rõ thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, sản phẩm và trách nhiệm; chuyển nhận thức thành hành động, quyết tâm thành kết quả.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu, nhiệm vụ chỉ được xem là hoàn thành khi có sản phẩm, dữ liệu kiểm chứng và hiệu quả thực tế; nhân dân phải được tham gia, thụ hưởng và là người đánh giá cuối cùng. Người nhấn mạnh: “Giá trị nghị quyết phải thể hiện ở đời sống và niềm tin của Nhân dân”.
Nhìn từ các xã vùng cao, biên giới tỉnh Tuyên Quang, yêu cầu ấy đang được cụ thể hóa bằng nhiều việc làm thiết thực. Thực tế cho thấy, nghị quyết chỉ có sức sống khi giải quyết đúng vấn đề đặt ra từ cơ sở; người đứng đầu trực tiếp chỉ đạo việc lớn, việc khó; cán bộ, đảng viên nêu gương bằng kết quả công tác và nhân dân được phát huy vai trò chủ thể.
Tại xã Lũng Cú – địa phương lấy du lịch làm ngành kinh tế mũi nhọn, việc bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống gắn với phát triển du lịch đặc biệt được quan tâm. Đây cũng là cách địa phương cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị, đưa văn hóa trở thành nguồn lực cho phát triển.
Theo ông Dương Ngọc Đức, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân xã Lũng Cú, văn hóa không chỉ là những giá trị cần gìn giữ mà còn là nguồn lực nội sinh, tạo nên lợi thế riêng của vùng đất địa đầu Cực Bắc.
Những ngôi nhà trình tường, mái ngói âm dương, tường rào đá; trang phục thổ cẩm; lễ hội, tri thức dân gian và nghệ thuật truyền thống của đồng bào Lô Lô, Mông, Giáy… đang được địa phương bảo tồn, đồng thời từng bước chuyển hóa thành các sản phẩm du lịch đặc trưng.
Thực tế cho thấy, khi bản sắc được giữ gìn gắn với du lịch cộng đồng, văn hóa có thể tạo ra giá trị kinh tế thiết thực cho người dân. Điển hình như thôn Lô Lô Chải, khi vinh dự được Tổ chức Du lịch Liên Hợp Quốc (UN Tourism) vinh danh là “Làng du lịch tốt nhất thế giới năm 2025”. Không gian nhà trình tường, đời sống văn hóa và các hoạt động cộng đồng nơi đây đang trở thành sức hút đối với du khách trong và ngoài nước.
Cùng với kiến trúc, hiện nay Lũng Cú chú trọng khôi phục và duy trì các lễ hội, nghệ thuật dân gian của đồng bào địa phương như: Lễ cúng Tổ tiên của người Lô Lô, Lễ xuống đồng của người Giáy, múa trống đồng, múa khèn; duy trì nghề thêu thổ cẩm, làm khèn Mông và phát triển các sản phẩm nông sản đặc trưng thành quà tặng phục vụ du lịch. Ẩm thực bản địa cũng được gắn với mô hình homestay, nhà hàng và các hoạt động trải nghiệm nông nghiệp, qua đó mở rộng chuỗi giá trị du lịch.
Hiệu quả từ hướng đi này được thể hiện rõ qua sự khởi sắc trong cuộc sống của người dân. Năm 2025, xã Lũng Cú đón hơn 800 nghìn lượt khách, doanh thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt gần 200 tỷ đồng. Du lịch đã tạo thêm việc làm và thu nhập cho hàng trăm hộ dân thông qua các dịch vụ homestay, ăn uống, vận chuyển, bán hàng thổ cẩm và nông sản. Riêng trong năm 2025, 139 hộ đã thoát nghèo.
Ông Dương Ngọc Đức cho rằng, chuyển biến đáng kể hơn là nhận thức của người dân về giá trị văn hóa. Khi văn hóa trở thành nguồn tạo thu nhập, trong tiềm thức của người dân tự dưng sẽ tự giác giữ gìn nhà cổ, trang phục, tiếng nói, dân ca, điệu múa và phong tục truyền thống. Đồng thời, chủ động học tập để nâng cao kỹ năng làm du lịch, ứng dụng công nghệ số, giữ gìn vệ sinh môi trường.
Thời gian tới, Lũng Cú sẽ tiếp tục định hướng phát triển du lịch theo phương châm “Xanh – Bản sắc – An toàn – Thân thiện”, nhất quán với quan điểm không đánh đổi bản sắc văn hóa và cảnh quan để lấy tăng trưởng nóng.
Địa phương sẽ tập trung nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch văn hóa, gắn trải nghiệm di sản với nông nghiệp sinh thái, ẩm thực và sản phẩm OCOP. Đồng thời, huy động nguồn lực cho bảo tồn nhà cổ, lễ hội và các giá trị văn hóa cộng đồng.
Đặc biệt, thế hệ trẻ được xác định là lực lượng kết nối truyền thống với hiện đại. Thanh niên hiện nay được địa phương khuyến khích tham gia quảng bá du lịch trên nền tảng số, khởi nghiệp từ văn hóa bản địa, làm hướng dẫn viên và trực tiếp giới thiệu những câu chuyện lịch sử, văn hóa của dân tộc mình đến du khách.
“Giữ gìn bản sắc văn hóa không phải là giữ lại sự nghèo khó, mà là biến bản sắc thành thế mạnh để chiến thắng nghèo khó”, ông Dương Ngọc Đức nhấn mạnh.
Trao đổi với phóng viên, ông Trần Quang Minh - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Tuyên Quang cho biết: Ngay sau khi nghị quyết được ban hành, các cấp ủy cần kịp thời cụ thể hóa thành chương trình hành động phù hợp với đặc thù, điều kiện thực tế của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong đó, phải xác định rõ nội dung, nhiệm vụ và phân công theo phương châm “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm”, đặc biệt gắn trách nhiệm với người đứng đầu.
Cùng với đó, các cơ chế, chính sách và văn bản pháp quy cần được nhanh chóng ban hành, tạo hành lang pháp lý vững chắc để doanh nghiệp và người dân có cơ sở tổ chức thực hiện.
Một yêu cầu quan trọng khác là đổi mới công tác học tập, quán triệt và tuyên truyền nghị quyết. Thay vì cách truyền đạt một chiều, cần sử dụng nhiều hình thức trực quan, sinh động, ứng dụng công nghệ số để nội dung nghị quyết tiếp cận sâu rộng đến từng nhóm đối tượng, từng giới và từng lĩnh vực.
Ông Trần Quang Minh nhấn mạnh vai trò tiên phong, nêu gương của cán bộ, đảng viên. Trong đó, “nói phải đi đôi với làm”. Đồng thời, công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá cần được tăng cường, thực hiện thường xuyên để kịp thời phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai.
Nhìn lại quá trình triển khai nghị quyết ở địa bàn vùng cao, theo ông Trần Quang Minh, đây là một quá trình vượt khó với nhiều nỗ lực, khó khăn nhất là từng bước chuyển từ phương thức truyền thống, nhiều khi còn nặng tính hình thức, sang cách tiếp cận thực tế, linh hoạt và mang tính hành động cao.
Một trong những thách thức lớn trước đây là địa hình chia cắt, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, trong đó có nhiều đảng viên lớn tuổi là người dân tộc thiểu số.
“Để khắc phục những rào cản này, các cấp ủy cơ sở ở Hà Giang (cũ) trước đó đã có cách làm linh hoạt, trong đó chú trọng chuyển ngữ - tức đơn giản hóa ngôn ngữ trong nghị quyết để người dân dễ hiểu hơn”, ông Minh cho hay.
Thay vì truyền đạt nguyên văn những văn bản mang tính lý luận, các cấp ủy đã chủ động biên dịch, tóm tắt nội dung theo hướng ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Tại các chi bộ vùng cao, việc truyền đạt nghị quyết bằng tiếng dân tộc bản địa như: Mông, Tày, Dao... được áp dụng linh hoạt, giúp đảng viên nắm được những nội dung cốt lõi.
Cùng với đó, vai trò của người có uy tín trong cộng đồng cũng được phát huy. Việc học tập nghị quyết không chỉ bó hẹp trong hội trường mà còn được lồng ghép với hoạt động của các già làng, trưởng bản, nghệ nhân dân gian, qua đó đưa tinh thần nghị quyết vào đời sống theo cách gần gũi, tự nhiên hơn.
Đặc biệt, sự phối hợp giữa địa phương và Bộ đội Biên phòng, cùng lực lượng cán bộ cắm bản, đã trở thành điểm sáng trong quá trình đưa nghị quyết đến với cơ sở.
Thêm vào đó, đội ngũ sĩ quan Biên phòng được tăng cường về giữ chức danh Phó Bí thư Đảng ủy xã và các đảng viên Biên phòng sinh hoạt tại những chi bộ thôn, bản xung yếu đã trở thành “cánh tay nối dài” trong công tác xây dựng Đảng ở cơ sở.
Theo ông Trần Quang Minh, lực lượng này không chỉ trực tiếp hướng dẫn quy trình sinh hoạt chi bộ, nâng cao tính kỷ luật, khắc phục tình trạng “ngại học nghị quyết”, mà còn tiên phong “cầm tay chỉ việc”, giúp chuyển hóa nghị quyết từ những nội dung trên giấy thành những hành động cụ thể.

Theo ông Minh, cách triển khai nghị quyết ở vùng biên giới Hà Giang trước đây chính là tinh thần “nói đi đôi với làm”.
Học nghị quyết cốt không phải để thuộc lòng, mà để giải quyết những vấn đề sát sườn của bản làng. Từ các nghị quyết chuyên đề về bài trừ phong tục, tập quán lạc hậu trong cưới xin, tang ma, cán bộ, đảng viên luôn là những người đi đầu thực hiện để làm gương cho quần chúng.
Tinh thần nghị quyết cũng được cụ thể hóa trong phát triển kinh tế và bảo vệ biên cương, thông qua những mô hình trồng cây bản địa, chăn nuôi hàng hóa, thành lập các tổ tự quản bảo vệ đường biên, cột mốc và giữ rừng.
Từ thực tiễn đó có thể thấy, sức sống của nghị quyết không chỉ nằm ở việc người dân được nghe, được học, mà quan trọng hơn là họ nhìn thấy những thay đổi cụ thể trong đời sống. Đó là khi cán bộ, đảng viên làm trước, làm thật và mang lại hiệu quả, niềm tin của nhân dân cũng được củng cố.
Theo ông Trần Quang Minh, đối với vùng cao, vùng sâu, vùng xa của Tuyên Quang hiện nay, việc quán triệt và triển khai nghị quyết cần được thực hiện phù hợp với điều kiện đặc thù, không thể áp dụng máy móc cách làm ở miền xuôi.
Trước hết, phương thức quán triệt cần hướng tới yêu cầu “dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm theo”. Nội dung nghị quyết có thể được chuyển hóa thành những tài liệu ngắn gọn, tranh cổ động trực quan hoặc biên dịch sang tiếng Tày, Mông, Dao... tùy đặc điểm từng địa bàn.
Nội dung nghị quyết cũng có thể được lồng ghép vào các buổi sinh hoạt văn hóa truyền thống, ngày hội bản làng, các làn điệu hát then, hát cọi để tăng tính gần gũi và khả năng tiếp nhận.
Ông Minh cho rằng, công tác tuyên truyền bằng miệng và phát thanh bản địa cũng cần được phát huy. Đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên là người địa phương cần được sử dụng hiệu quả; hệ thống loa truyền thanh tại xã, bản có thể tuyên truyền bằng cả tiếng phổ thông và tiếng dân tộc thiểu số, lựa chọn những khung giờ phù hợp với sinh hoạt, lao động của người dân.
Một giải pháp quan trọng khác theo ông Minh là phát huy vai trò “hạt nhân” của người có uy tín và đảng viên tại cơ sở, lấy chi bộ làm gốc. Mỗi nghị quyết được đưa ra cần được cụ thể hóa bằng một việc làm, một công trình hoặc một mục tiêu phát triển kinh tế cụ thể ở địa phương, chẳng hạn làm đường bê tông nông thôn, trồng rừng, giữ gìn vệ sinh môi trường.
Bí thư chi bộ, trưởng thôn và người có uy tín trong cộng đồng cũng phải là những người hiểu nghị quyết trước, thực hiện trước để làm gương. Khi người dân thấy cán bộ làm có hiệu quả, từ việc hiến đất làm đường đến chuyển đổi cơ cấu cây trồng, họ sẽ có thêm niềm tin và tự giác làm theo.

“Cầm tay chỉ việc” cũng là yêu cầu được đặt ra trong quá trình đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bởi theo ông Trần Quang Minh, nghị quyết của Đảng chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi góp phần giúp đời sống người dân ngày càng ấm no hơn.
Do đó, việc thực hiện nghị quyết cần được lồng ghép với các chương trình mục tiêu quốc gia đang triển khai tại Tuyên Quang như phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xây dựng nông thôn mới, xóa nhà tạm, nhà dột nát.

Cùng với đó là xây dựng những mô hình điểm, tập trung vào các mô hình liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, phù hợp với điều kiện từng địa bàn như trồng chè đặc sản, nuôi trâu, bò vỗ béo, phát triển du lịch cộng đồng, homestay...
Việc tổ chức cho người dân tham quan, học tập trực tiếp từ các mô hình hiệu quả sẽ giúp thay đổi tư duy sản xuất nhỏ lẻ, từng bước hình thành phương thức sản xuất phù hợp hơn với yêu cầu phát triển kinh tế.
Trong điều kiện hạ tầng viễn thông ngày càng phát triển, công nghệ số cũng cần được tận dụng phù hợp với vùng cao. Các nhóm: Zalo, Facebook… của thôn, bản có thể trở thành kênh tuyên truyền nhanh chóng, thuận tiện. Cán bộ, đảng viên được khuyến khích sử dụng Sổ tay đảng viên điện tử để cập nhật kịp thời các chủ trương, chính sách mới, từ đó định hướng tư tưởng cho nhân dân một cách nhanh chóng, chính xác.
Cuối cùng, việc đưa nghị quyết vào cuộc sống cần được đặt dưới sự kiểm tra, giám sát thường xuyên. Các cấp ủy phải theo dõi tiến độ triển khai tại cơ sở, kịp thời tháo gỡ những “điểm nghẽn”, nhất là những khó khăn mang tính đặc thù của vùng cao.
Cùng với kiểm tra, giám sát, cần kịp thời biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những tập thể, cá nhân, hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số có cách làm hay, sáng tạo, đạt hiệu quả cao.
Từ việc học nghị quyết đến hành động cụ thể là một chặng đường đòi hỏi sự kiên trì, linh hoạt và trách nhiệm. Khi nghị quyết được cụ thể hóa thành những việc làm thiết thực, đặc biệt là cán bộ, đảng viên thực sự nêu gương để người dân nhìn thấy lợi ích trong đời sống, nghị quyết mới có thể “bén rễ”, tạo chuyển biến thực chất và bền vững ngay từ cơ sở.
Thực hiện: Giào Họ - Hà Linh












