Bà Rịa – Vũng Tàu: Ba đời đi tìm công lý
Nhiều lần bị bác bỏ đơn khiếu nại nhưng hộ gia đình bà Vũ Thị Đát (SN 1927, thường trú tại TP Bà Rịa) vẫn tin rằng công lý sẽ được thực thi. Vụ việc không chỉ khiến nhiều người thương cảm mà còn lộ ra những bất cập trong công tác hành chính của ngành tư pháp TP Bà Rịa.
Nghệ An: Chưa giải quyết khiếu nại dứt điểm cho dân, UBND xã Quỳnh Bảng đã tổ chức cưỡng chế?
Tăng cường thanh tra, phòng chống tham nhũng và giải quyết khiếu nại tố cáo
Xây trạm xử lý nước thải sát khu dân cư, Khang Điền tiếp tục bị dân cư khiếu nại
Vụ việc số 7 đường Thanh Niên: Bà Oanh không đồng ý với QĐ giải quyết khiếu nại của quận Ba Đình
Tiếp xúc với phóng viên báo Pháp luật Việt Nam, toàn thể gia đình bà Đát không giấu được nỗi bức xúc. Theo trình bày của hộ bà Đát, gia đình bà có 2 thửa đất gồm thửa 37, 39 tờ bản đồ số 17 diện tích lần lượt là 11.474,7m2 và 7.540m2 đều tại phường Long Tâm, Thành phố Bà Rịa.
Nguồn gốc các thửa đất trên do gia đình bà Đát khai phá và sử dụng từ năm 1963, sau giải phóng gia đình bà có đưa 2 diện tích trên vào tập đoàn sản xuất số 10 của xã. Tập đoàn sản xuất sau đó hoán đổi đất cho bà Đát canh tác trên một diện tích lúa nước của ông Bạch. Đối với diện tích đất 11.474,7m2 thì giao cho ông Bùi Hữu Hạnh canh tác và diện tích 7.540m2 giao cho ông Tô Văn Hợp canh tác.

Thửa đất khiến một gia đình 3 đời đi tìm công lý .
Đến năm 1993, tập đoàn sản xuất giải thể nên Nhà nước có chủ trương trả lại đất cho chủ cũ. Tại thời điểm đó, Trưởng ban Nông hội xã - Ông Nguyễn Thiện Pha là người trực tiếp thực hiện việc giao trả đất đã hoán đổi. Bà Đát trả lại diện tích đất canh tác lúa cho ông Bạch. Ông Hợp cũng thoả thuận trả lại diện tích đất 7.540m2 lại cho bà Đát.
Đối với diện tích đất 11.474,7m2 giao cho ông Bùi Hữu Hạnh (nay là thửa 79 tờ bản đồ số 17, phường Long Tâm, thành phố Bà Rịa), ông này hẹn thu hoạch xong bạch đàn sẽ tiến hành như trả đất, bà Đát đã đồng ý. Tuy nhiên, sau khi ông Hạnh chết, con ông Hạnh là ông Bùi Hữu Hùng sau khi thu hoạch xong bạch đàn liền đã không trả lại đất cho bà Đát như đã thoả thuận, do đó phát sinh tranh chấp. Năm 2002, trong thời gian các cơ quan chức năng giải quyết thì tranh chấp, ông Hùng đã được UBND TX Bà Rịa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Trong nhiều năm, gia đình bà Đát đã làm đơn khởi kiện ông Hùng đòi lại đất nhưng TAND TX Bà Rịa thông báo trả lại đơn kiện, căn cứ vào Nghị quyết 02/NQ-HĐTP năm 2004 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn giải quyết một số vấn đề liên quan tranh chấp đất đai. Hiện bà Đát đã làm đơn khởi kiện đến chánh án TAND Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu về việc TAND Thị xã Bà Rịa bác khiếu nại của bà.

Ông Vũ Văn Lễ, là đời thứ 3 đi đòi lại quyền lợi cho gia đình.
Theo đó, tiểu mục 2.4 mục II của Nghị quyết 02/NQ-HĐTP năm 2004 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao quy định:
[2.4. Giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất trong trường hợp đất đã được đưa vào tập đoàn sản xuất, hợp tác xã mà sau đó tập đoàn sản xuất, hợp tác xã đã bị giải thể.
a) Chủ cũ hoặc người thừa kế của người đó không có quyền đòi lại quyền sử dụng đất nếu đất đó đã được giao cho người khác sử dụng và họ đã được Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003, trừ trường hợp có căn cứ chứng minh người đang sử dụng đất đó có hành vi gian dối, lừa đảo... để được giao quyền sử dụng đất…]
Đây chính là điều khoản mà TAND TX Bà Rịa đã căn cứ để bác đơn khởi kiện của hộ bà Đát. Tuy nhiên, việc TAND TX Bà Rịa áp dụng điều khoản này có phù hợp với trường hợp của bà Đát hay không thì cần làm rõ.
Quy định đã chỉ rõ: “Chủ cũ hoặc người thừa kế của người đó không có quyền đòi lại quyền sử dụng đất nếu đất đó đã được giao cho người khác sử dụng”. Trong trường hợp này, TAND cần làm rõ thửa đất của bà Đát sau khi giải thể tập đoàn hợp tác xã có được giao cho hộ ông Hùng hay không, nếu có thì ai là người giao đất, và việc giao đất này có hợp pháp hay không?
Đồng thời, cần truy lục hồ sơ đăng ký quyền sử dụng đất của thửa đất trên để kiểm tra tính toàn diện của hồ sơ, xác minh rõ nguồn gốc thửa đất mà ông Hùng đăng ký. Nếu trình bày của hộ bà Đát là chính xác, vậy chắc chắn ông Hùng không thể có đủ điều kiện đăng ký quyền sử dụng, do thửa đất trên vốn là do gia đình bà Đát quản lý sử dụng.
Theo ghi nhận, rất nhiều nhân chứng sẵn sàng đứng ra xác nhận nguồn gốc thửa đất trên là thuộc về hộ gia đình bà Đát, trong đó có ông Vũ Hiệp (SN 1956) - Kế toán của hợp tác xã, là người đã chịu trách nhiệm kiểm kê khi đưa người dân vào hợp tác xã sau giải phóng.
Ông Hiệp cho biết: “Theo tôi được biết, thời gian trước giải phóng bà Đát có canh tác khu đất đó. Về sau khi Nhà nước có chủ trương cào bằng, chia đất cho người dân canh tác thì đất của bà Đát được chia cho vài người, trong đó có ông Hạnh. Khoảng năm 1992, khi tập đoàn giải thể, chủ trương là trả lại đất cho chủ cũ. Khi đó người dân hầu hết chủ động trả lại cho nhau, duy có trường hợp hộ ông Hùng (con trai ông Hạnh) là không trả lại cho bà Đát. Từ đó mới phát sinh tranh chấp, kiện tụng cho tới nay.”
Tính từ thời điểm năm 1993 tới nay đã gần 30 năm trời, 3 thế hệ trong gia đình bà Đát đã không ngừng theo đuổi khiếu nại nhằm đòi lại mảnh đất của cha ông. Hiện bà Đát đã qua đời và vụ việc được toàn thể gia đình uỷ quyền cho cháu nội bà là người tiếp tục quá trình tranh chấp. Mảnh đất giờ không chỉ là tài sản mà còn là tượng trưng cho niềm tin của gia đình bà Đát vào công lý.
Xuyên suốt vụ việc, có thể thấy vẫn còn nhiều điểm yếu trong lập luận của TAND TX Bà Rịa khi không chấp nhận đơn khởi kiện của hộ bà Đát. Rất mong trong thời gian tới, các cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ sớm vào cuộc, tránh gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của người dân.
Báo Pháp luật Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin.

