Ai sẽ bồi thường khi cả nạn nhân và hung thủ đều đã tử vong?
Trong vụ án cả nạn nhân và người gây án đều đã qua đời thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường?
Hà Nội: Vụ án giết người bị khiếu nại bỏ lọt tội phạm?
Liên quan vụ giết người, phóng hỏa phi tang nhưng vẫn trốn khỏi lưới trời?

Hình minh hoạ.
Như đã thông tin, sáng 16/9 vừa qua, tại phường Nghĩa Đô (quận Cầu Giấy, TP. Hà Nội) đã xảy ra vụ án mạng kinh hoàng, một đối tượng nghi do mâu thuẫn tình cảm đã đâm 2 nữ sinh tử vong tại phòng trọ. Sau đó, nghi phạm cũng rút dao tự đâm và nhảy từ tầng 4 xuống đất tự tử. Phát hiện sự việc, người dân liền báo cáo tới cơ quan công an và đưa đối tượng đi cấp cứu.
Tuy nhiên, do vết thương quá nặng nên nghi phạm đã tử vong tại bệnh viện. Qua điều tra xác định, kẻ gây án có danh tính là Giàng A Dông (SN 1996, quê ở Điện Biên).
Liên quan đến hướng giải quyết vụ án khi cả nạn nhân và hung thủ đã tử vong, nhiều bạn đọc thắc mắc liệu gia đình nghi phạm có phải bồi thường cho nạn nhân hay không?
Liên quan đến vấn đề này, luật sư Đặng Văn Cường (Trưởng văn phòng Luật Sư Chính Pháp, Hà Nội) cho hay: Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự, nếu trong trường hợp đối tượng thực hiện hành vi phạm tội đã chết và vụ án bị đình chỉ nhưng đối tượng gây án có tài sản riêng để lại thì người thừa kế sẽ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân bằng những tài sản đó.
Người đại diện theo pháp luật của đối tượng này có trách nhiệm thay người phạm tội thực hiện việc bồi thường này theo quy định pháp luật. Nếu không thỏa thuận được về việc bồi thường thì gia đình nạn nhân có quyền khởi kiện để yêu cầu bồi thường theo quy định pháp luật.
Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:
- Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;
- Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.
"Khoản 7, điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự quy định không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:“...
7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;...”
Trong quá trình điều tra nếu thấy có căn cứ tại điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự và điều 157 bộ luật tố tụng hình sự thì cơ quan điều tra sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.
Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.
Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.











