---
title: "Ngôn ngữ trong Giấc mơ sông Thương của Nguyễn Phúc Lộc Thành"
avatar: https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/03/18/f4372fb9-3022-430c-87ac-b57586009594.jpg
slug: ngon-ngu-trong-giac-mo-song-thuong-cua-nguyen-phuc-loc-thanh-192019
url: https://phapluatplus.baophapluat.vn/ngon-ngu-trong-giac-mo-song-thuong-cua-nguyen-phuc-loc-thanh-192019.html
published_at: 13:10 04/01/2022
updated_at: 13:10 04/01/2022
authors: Hoàng Kim Ngọc
source:
  name: Báo Pháp Luật Việt Nam
  domain: baophapluat.vn
  type: press
category: Văn hóa
topics:
  - Nguyễn Phúc Lộc Thành
  - Giấc mơ sông Thương
  - phê bình văn học
  - Pháp luật plus
language: vi
content_type: article
---

# Ngôn ngữ trong Giấc mơ sông Thương của Nguyễn Phúc Lộc Thành

## Giấc mơ sông Thương của Nguyễn Phúc Lộc Thành là một tập thơ lục bát cách tân. Tác giả đã có nhiều chiêu thức làm mới ngôn ngữ thi ca tiếng Việt như sáng tạo từ láy mới; mở rộng phổ kết hợp cho danh từ, động từ; chuyển từ loại, đảo từ ngữ, tách ghép từ; nhân hóa, so sánh độc đáo; sáng tạo về nhịp thơ và thanh điệu..., sử dụng các biện pháp tu từ ngữ âm như điệp phụ âm, điệp vần… làm cho câu thơ giàu tính nhạc. Liên tưởng trong sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Phúc Lộc Thành có biên độ rộng, chồng lấn, đa chiều nên đã góp phần tạo được nhiều kết hợp lạ mang bản quyền thương hiệu riêng của Nguyễn Phúc Lộc Thành. Tất cả những cố gắng đó của anh đều nhằm mục đích tạo nghĩa mới, tạo hình dung từ, tránh những từ mòn sáo, gây được sức hút đối với độc giả thời đại 4.0.

  

###### [UBND tỉnh Bắc Ninh xử phạt 80 triệu đồng trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà](https://www.phapluatplus.vn/thuong-truong/ubnd-tinh-bac-ninh-xu-phat-80-trieu-dong-truong-cao-dang-cong-nghe-bac-ha-d174116.html "UBND tỉnh Bắc Ninh xử phạt 80 triệu đồng trường Cao đẳng Công nghệ Bắc Hà")

  

Sông Thương là một dòng sông có tên tuổi quen thuộc, in đậm dấu ấn văn hóa Việt trong tổng số hơn 2000 con sông lớn nhỏ ở nước ta. Ca dao đã có câu: _Sông Thương nước chảy đôi dòng/ Bên trong bên đục em trông bên_ _nào_. Vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Phúc Lộc Thành lại chọn chỉ một chủ đề “Giấc mơ sông Thương” để viết những 36 bài lục bát cách tân. Tác giả đã có ý thức tạo ra một giọng thơ riêng biệt, không nhòe lẫn vào ai và làm mới ngôn ngữ bằng nhiều chiêu thức như_:_ _sáng tạo từ láy mới; mở rộng phổ kết hợp, trường liên tưởng cho danh từ, động từ; chuyển từ loại, đảo từ ngữ, tách ghép từ; nhân hóa, so sánh lạ, độc đáo;_ sử dụng các biện pháp tu từ ngữ âm như _điệp phụ âm, điệp vần… làm cho câu thơ giàu tính nhạc_ Ngoài ra, trong một số trường hợp có sự _sáng tạo về nhịp thơ và thanh điệu..._ Tất cả những cố gắng đó của Nguyễn Phúc Thành đều nhằm mục đích tạo nghĩa mới, tạo liên tưởng mới, tạo hình dung từ, tránh những từ mòn sáo, gây được sức hút đối với người đọc.

**Sáng tạo từ láy**

Có thể nói từ láy là đặc sản của ngôn ngữ nghệ thuật, là những từ mang tính hình tượng cao nhất, đồng thời cũng réo rắt nhạc điệu, sử dụng từ láy để xây dựng hình tượng thơ, nhạc thơ là một lựa chọn sáng suốt của các tác giả thơ. Tính nhạc và tính họa là hai đặc trưng cơ bản của thi ca. Từ láy lại có ưu thế là vừa tạo được tính nhạc vừa tạo được tính hình tượng mà không một đơn vị từ ngữ nào có được.

Thông hiểu những đặc điểm đó nên tần số sử dụng của các đơn vị láy trong _Giấc mơ sông Thương_ rất cao. Chỉ khảo sát riêng phần 1 với 36 bài thơ, tác giả đã dùng 306 từ láy và từ ghép dạng láy (253 từ láy + 56 từ ghép dạng láy), trung bình khoảng 9 từ trong 1 bài.

Nếu trong tiếng Việt có 21 _phụ âm đầu_ thể hiện bằng 25 con chữ cả đơn và đôi thì từ láy, dạng láy của NPT đã dùng đủ cả 21 phụ âm và 24 con chữ, chỉ thiếu chữ NGH (B, C/K/Q, D/ GI, Đ, G/ GH, H, K, L, M, N, R, S, T, V, X, PH, TH, TR, CH, NG/ NGH, KH (25 chữ là không kể P, vì P không làm phụ âm đầu trong tiếng Việt, nếu có chỉ là từ phiên âm: pênixilin, đèn pin, pô ảnh, bánh mì pa tê, vải pô pơ lin…).

Ngoài những từ láy, dạng láy quen thuộc thì NPT có ý thức làm mới các đơn vị láy bằng nhiều cách: đảo vị trí âm tiết hoặc biến âm hoặc thay đổi thanh điệu trong 2 âm tiết của từ láy đôi... Chẳng hạn: mượt mà = **mà mượt**, vần vũ = **vũ vần**, vật vờ = **vờ vật,** thừa thãi **=> thãi thừa,** nõn nà **=> nà nõn,** lau lách **=> lách lau,** khờ khạo **= khạo khờ,** khuya khoắt **=> khoắt khuya,** ngơ ngác **=> ngác ngơ,** nhàu nhĩ **=> nhĩ nhàu,** gầy guộc **=> guộc gầy,** hững hờ **=> hờ hững,** gầm gào **=> gào gầm**, lầm lũi **=> lẫm lụi,** thưa thớt **=> thưa thác…**

*   _Gieo vào em hạt **khạo khờ/** Để nuôi ngà ngọc xanh bờ thanh tân_
*   _Mù mưa/ khăn trắng/ Tận đường/ Mẹ về gối sóng bờ Thương **nhĩ nhàu**_
*   _Thiên đình/ khăn trắng trán trời/ Tim tôi/ **vờ vật**/ đập lời dương gian_
*   **_Khoắt khuya_**_/ một vạt cũ sờn/ Giữa bờ. Giữa bụi/ Trên hòn thia lia_
*   **_Ngác ngơ_** _cỏ lác hai hàng/ Mộ bia đỏ mắt chang chang lưng đồi_
*   _Nhớ nhau ướp mặn khóe ngày/ Chân chim rạn xuống **guộc gầy** bến Mom_
*   _Một đò./ Một mẻ lưới thưa/ Em về./ Ngày ấy/ **thãi thừa**/ một tôi…_
*   _Da thơ **nà nõn** vào vần/ Thịt thơ xếp múi lên dần hoàng hôn_
*   _Bến nghèo**/ thưa thác** một vài/ Bóng thuyền lạc giữa đêm dài vô minh_
*   _Cha đi xộc xệch đường bừa/ Mẹ **lẫm lụi** giữa hai mùa ngô khoai_
*   _…_

Có nhiều trường hợp, một câu lục bát dùng đến 3 đơn vị láy:

*   _Bàn tay_ **đầy đặn _bãi bồi/_** _Năm ngón cào khuyết vầng_ **tồi tội** _trăng_
*   _Khỏa thân trên sóng_ **địa đàng**_/ Bờ Thương_ **mà mượt** _đôi hàng_ **lách lau**

Ngoài ra Nguyễn Phúc Thành còn sử dụng những từ láy ít sử dụng trong thơ như **ngầu ngã, bén bảng, bươm bả, bề bề, rợn rợn, điêu điêu, ràng rạc, ngu ngu, ngà ngà, hắt hắt…** Thậm chí có những từ láy lạ được sáng tạo từ 2 từ láy khác: _Ngắt ngơ = Ngăn ngắt + ngơ ngác/ lơ ngơ,_ tạo ra một nghĩa súc tích hơn. (Mẹ nằm/ đồng rạ _ngắt ngơ/_ Con nước quạnh quẽ/ Bụi bờ khóc ru)…

Nguyễn Phúc Thành hầu như không dùng từ láy nguyên âm (chỉ có một từ _ầu ơ_), ít dùng từ láy cồng kềnh chùm ba, chùm tư, không dùng những từ láy khẩu ngữ, tếu táo, bụi bặm như _ú a ú ớ, ỡm ờ, õng ẹo, thủng thà thủng thẳng, tênh hênh, thum thủm, nhờn nhợn_…(điều này khác với Nguyễn Duy). Vì thế, giọng thơ của Nguyễn Phúc Thành có vẻ lành hiền, mềm mại, không bỡn cợt và rất nghiêm túc.

Bên cạnh việc sáng tạo và sử dụng từ láy ở những vị trí đắc địa, tác giả _Giấc mơ sông Thương_ còn có nhiều cách để làm mới ngôn ngữ thơ.

![4](https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/03/18/0411bdfb-267d-44e7-8ef2-0a108f2ae669.jpg)

_Giấc mơ sông Thương._
----------------------

**Mở rộng phổ kết hợp từ vựng**

Thực ra số lượng từ vựng mà Nguyễn Phúc Thành sử dụng không nhiều, (đây không phải là trường hợp hiếm, Trịnh Công Sơn cũng thế, còn Đồng Đức Bốn thì Nguyễn Huy Thiệp nói rằng anh cũng chỉ dùng có khoảng 600 đơn vị từ mà thôi…). Tuy nhiên, điều đặc biệt là Nguyễn Phúc Thành có khả năng liên tưởng rất rộng, đa tầng nên mặc dù có những từ anh dùng đi dùng lại khá nhiều như một ám ảnh vô thức thì vẫn được làm mới bằng những cách ghép mới lạ**.**

**_2.1. Mở rộng phổ kết hợp cho các động từ_**

Bình thường bổ ngữ cho các động từ, tính từ phải là những danh từ cụ thể như _chải **tóc**, xước **da**, gieo **mạ**, nuôi **con**, sàng **gạo**, ướp **thịt**, vá **áo**, khâu **cúc**, đãi **đỗ**, vớt **bèo**, rách **áo,** lau **mặt/tay,** đơm **cơm**…_ nhưng trong thơ Nguyễn Phúc Thành thì những bổ ngữ lại là những danh từ, cụm danh từ trừu tượng.

*   _Tôi về **gieo ngải vào thơ/** Để con chữ dại/ khóc/ bờ bụi đêm_
*   _Đời mòn. Nước mắt cạn chưa/ Tôi ngồi **lau tiếng chuông chùa bến Thương**_
*   _Nhụy em vồi vội dậy hương/ Tôi mang **ướp lấy một dương gian buồn**_
*   _Nhớ nhau **ướp mặn khóe ngày**/ Chân chim rạn xuống guộc gầy bến Mom_
*   _Em tôi **vá víu trời thưa**/ **Khâu hàng khuy hạ vào trưa nắng gầy**_
*   _Ngày buông ngà ngọc xuống rồi/ Tôi **may áo nắng** đồi mồi triền sông_
*   _Mẹ quỳ dưới bến **sàng sao**/ **Đãi mặt sông**/ **vớt ánh** nào – chị tôi?_
*   _Đâu rồi xống áo vào cơn/ Hàng khuy **cựa rách một đơn độc chiều**_
*   _Ngút trời/ cải đã lên ngồng/ Tôi **đơm chát đắng** trên đồng phù hoa_
*   _…_

Nếu người ta “phơi áo”, “phơi khăn” thì Nguyễn Phúc Thành “phơi tuổi”, “phơi trinh thắm”, “phơi chiều”:

*   _Chị **phơi tuổi** héo trên cơi trầu đào_
*   _Thương giang. Chiều chết/ Trời chìm/ Em **phơi trinh thắm** trên nghìn phôi pha_
*   **_Phơi chiều_** _lên sợi ngô đồng/ Hoàng hôn sũng ướt dưới dòng sông Sim_

Trịnh Công Sơn cũng có những kết hợp lạ với từ _phơi_ như _phơi cuộc tình_ (_Ru ta ngậm ngùi_) và _phơi tình cho nắng khô mau_ (_Tình xót xa vừa_). Như vậy là cùng với nhạc sĩ tài hoa họ Trịnh, Nguyễn Phúc Thành đã làm phong phú thêm cho bổ ngữ của từ _phơi_ trong ngôn ngữ Việt.

Nếu người ta “gối đầu lên gối lụa/ lên đùi/ lên tay/ lên ngực người yêu”… thì Nguyễn Phúc Thành lại “gối đầu lên ngực sông Thương”, “gối ngực lên giấc quan hà”, “gối sóng sông quê”, “gối sóng bờ Thương”, “gối chiều lên mắt em”:

*   **_Gối đầu lên_** _**ngực sông Thương**/ Em về ngủ giấc mười phương tiền đồn_
*   **_Gối ngực lên giấc quan hà_**_/ Mơ đôi/ gót ngọc**/** nuột nà/ khua trăng…_
*   _Mẹ nằm **gối sóng sông quê**/ Cây thiền/ trút lá/ bồ đề/ xuống con_
*   _Mù mưa/ khăn trắng/ Tận đường/ Mẹ về **gối sóng bờ Thương** nhĩ nhàu_
*   **_Gối chiều lên mắt em_** _tôi/ Nghe mầm tóc gọi./ Bời bời tay ru_

Nếu chúng ta đã quen với những cụm từ kết hợp với động từ _cầm_ như “cầm tay”, “cầm nón quai thao”, “cầm quyển sách”… thì Nguyễn Phúc Thành lại có các kết hợp lạ như: “cầm sợi nắng thưa”, “cầm câu quan họ”, “cầm chum chúm, “cầm chiều”, “cầm rã rượi”, “cầm thương nhớ”, “cầm tiếng nghẹn”:

*   _Ngón trần/ **cầm sợi nắng thưa**/ Vá lành vạt ngực tuổi chưa biết hờn_
*   _Chiều mòn chân bến sông Sim/ **Cầm câu quan họ**, tôi tìm em tôi_
*   _Tôi **cầm chum chúm** vòng ôm chật trời_
*   **_Cầm chiều_** _trên bến sông Thương/ Con về mót chắt đoạn đường mẹ qua_
*   _Một trời Kinh Bắc đã ngầu/ Tôi **cầm rã rượi**/ trong nhầu nhĩ đêm_
*   _Em **cầm/ tiếng nghẹn thanh tân**/ Vá xong cơn nhớ/ kín dần màu đêm_
*   _Ta **cầm thương nhớ đầy cơn**/ Chặt tay/ biếc một/ chiều mơn mởn tình_

Hoàng Cầm cũng có cái cầm trừu tượng (_Em **cầm được cõi mưa nhung**_) nhưng có thể nói, đối với Nguyễn Phúc Thành, dường như tất cả những cái gì không thể “sờ thấy” mà chỉ có thể “cảm thấy” thì đều có thể cầm nắm được. Anh đã biến cái ảo thành cái thực, cái trừu tượng thành cái cụ thể, mà tri nhận những cái cụ thể bao giờ cũng dễ dàng hơn cái trừu tượng.

Nếu chúng ta đã từng quen với những kết hợp như “cởi áo” (_Yêu nhau cởi áo cho nhau -_ Ca dao_, Em cởi áo như rừng thu trút lá_ \- Pasternak) hoặc: “cởi khăn, cởi tất, cởi váy, cởi quần, cởi cà vạt”… thì Nguyễn Phúc Thành lại có “cởi rèm đêm”, “cởi yếm đêm”, “cởi áo phù sa”, “cởi hoa”, “cởi hương” mà thậm chí còn có cả “cởi hương đêm”, có “cởi nắng” mà thậm chí là “cởi nắng ướt”:

*   _Tháng năm,/ một thoáng hình như/ Bằng lăng phủ Lạng ngần ngừ **cởi hoa**_
*   _Áo đêm/ vồi vội **cởi hương**/ Ngực đêm chum chúm/ như dường mùa trăng._
*   _Em mặc sen hạ bời bời/ Tôi **cởi từng cánh rã rời hương đêm**_
*   _Sương tàn trên phím đàn môi_/ _Em **cởi nắng** thả xuống trời sông Thương_
*   _Sông Thương say giấc địa đàng/ Em **cởi nắng ướt** chang chang vú đồi_

Kết hợp từ “cởi nắng ướt” quả thực là rất đặc biệt, hình như đến thời điểm này chưa có nhà thơ Việt nào dùng như thế. _Nắng_ đã được rất nhiều nhà thơ sáng tạo ra hàng 100 kết hợp nắng khác nhau \[2, tr. 53- 59\]. Chỉ xin dẫn thêm vài ví dụ khác:

*   _Hè thon cong thân **nắng cựa** mình_ (Lê Đạt).
*   _Còng lưng **đẩy nắng** đi/ Còng lưng đẩy gió đi (Mai Văn Phấn)_
*   **_Nắng lảo đảo_**/ _mái hiên say nghiêng ngả_ (Phan Huyền Thư),
*   _Trong **vũ điệu nắng**/ Trong tiết tấu mưa/ Từ nơi khởi nguyên/ Lửa mọc mầm theo đường cong thân thể_(Vi Thùy Linh)
*   _Tiếng ve xé nát đôi bờ/ Chợ Thương để **nắng bơ phờ** trên sông_ (Đồng Đức Bốn)
*   _Hôm nay em đến thắm cô/ **Nắng chiêm chín rực** đôi bờ phi lao_ (Trần Đăng Khoa)

Trong thơ Nguyễn Bính, kết hợp từ _nắng_ đã biến thành… nước: _Hà Nội cơ hồ rộn tiếng ve_/ **_Nắng dâng làm lụt_** _cả trưa hè_ nhưng có lẽ trong bản quyền từ điển thơ Việt thì kết hợp lạ **“nắng ướt”**, **“cởi nắng ướt”** và **“nắng đã liêu xiêu (**_Này em **nắng đã liêu xiêu/** Vùng non đã dậy hương Kiều xuống thơ_) đã thuộc về Nguyễn Phúc Thành.

**_Mở rộng phổ kết hợp cho các danh từ_**

Nếu chúng ta đã quen với những kết hợp như “mầm thóc”, “mầm đậu nành”, “mầm rau”… thì Nguyễn Phúc Thành có “mầm xuân”, “mầm tóc”, “mầm tôi”, “mầm em”, “mầm cựa nghẹn chồi”, “mầm đau biêng biếc”:

*   _Gối chiều lên mắt em tôi/ Nghe **mầm tóc** gọi./ Bời bời tay ru_
*   _Lưng còng,/ trĩu xuống canh thâu/ **Mầm đau biêng biếc**/ ngả đầu vào đêm_
*   _Xuân thì mùa đã phổng phao/ **Mầm em**/ rưng rức/ nhú vào thơ trinh_

Kết hợp từ ngữ độc đáo là để tạo hình ảnh, tạo liên tưởng. Trong trường nghĩa của những từ như _phổng phao, mầm, em, nhú, trinh, thơ_ thì câu thơ này có gợi liên tưởng không? Tôi nghĩ là có, rất phồn thực và cũng rất đẹp, bởi _thơ_ là đẹp, mà lại là _thơ trinh_. Nhân đây, có lẽ người đọc cũng sẽ nhớ tới một câu thơ mà Xuân Diệu từng phê phán kịch liệt: _Ta yêu lắm cửa sông mình thắm đỏ/ suốt bốn mùa phù sa_. Ông nói: “người viết đã quá vô ý tứ… Ai là người Việt Nam mà chẳng biết hai chữ “cửa mình” là gì, khi hạ chữ ‘cửa mình” ở trong cùng một câu với hai chữ “thắm đỏ” thì lại càng phải chú ý, không được phép vô ý tứ…”

Từ _vạt_ sẽ là bình thường trong những kết hợp như vạt áo, vạt yếm tiên/mềm/ sồi, vạt đất, vạt ruộng, vạt trái dừa… nhưng sẽ là bất thường trong những sáng tạo như _vạt cũ sờn, vạt nước ngầu, vạt ngực, vạt trời, vạt nắng thưa, vạt mưa, vạt tù, vạt thơm, vạt da mồi nhúm nhăn, vạt đui mù nhân gian…_

*   **_Vá lành vạt ngực_**_/ tuổi chưa biết hờn_
*   _Mẹ ngồi kéo mẻ lưới tù/ Đời quăng xuống **vạt đui mù nhân gian**_
*   _Cho bươm bả rách **vạt tù**/ Yếm xiềng xích thở./ Tôi mù mù đêm_

_Vạt tù_ phải chăng là cái vạt yếm xiềng xích bộ ngực người thiếu nữ, có gì gợi liên tưởng với hình tượng Thị Mầu muốn bung xé xiềng xích đến bươm bả để giải phóng: _Những khát vọng nằm sâu trong mỗi trái tim người/ Được sống đúng với lòng mình thực chất/ Những xiềng xích phết màu sơn đạo đức/ Mấy trăm năm không khóa nổi Thị Mầu._ (Anh Ngọc)_…_

Nếu Trịnh Công Sơn có cụm từ _ru em từng_ **_ngón xuân nồng_**; Vi Thùy Linh có _**ngón hồng đồng trinh, ngón ngón em dài trắng** (_Bơi trên lưng anh mải miết ngón ngón em dài trắng); Hoàng Cầm có _**ngón cụt**_ (Ngón cụt thói quen rờ ngực yếm_)_; Đỗ Trọng Khơi có **_mười ngón vô thường_** (Di cư mười ngón vô thường/ Tiếng chim đã mỏng, mùi hương sắp tàn)… thì Nguyễn Phúc Thành có _ru em **mười ngón tình sâu**,_ ngoài ra còn có _**mười ngón thiên thần, ngón chàm, bầy ngón, ngón trần, nghìn ngón xưa**…_ Chúng tôi cũng chưa lí giải được tại sao sự ám ảnh vô thức về **đốt** và **ngón** trong thơ Nguyễn Phúc Thành lại nhiều đến lạ lùng, đáng ngạc nhiên như thế.

Từ **bầy** của Nguyễn Phúc Thành cũng là một kết hợp rất đặc biệt, được sử dụng nhiều đến mức đáng ngạc nhiên. Theo nghĩa từ điển, từ **bầy** được giải thích như sau: (1): “Đám đông động vật cùng loài sống với nhau hoặc tạm thời tập hợp tại một chỗ: _bầy gia súc, chim lạc bầy_ (2): Đám đông người (hàm ý khinh), lũ: _Bọn du côn kéo đến cả bầy_”. \[4, tr. 53\]

Bên cạnh những kết hợp quen thuộc như _bầy trâu, bầy côn trùng_ thì Nguyễn Phúc Thành còn có nhưng kết hợp lạ lẫm sau: Đó là: _bầy nhân gian, bầy rơm rạ, bầy gân, bầy tối mịt mù, bầy hạt muối, bầy thóc, bầy chấm phẩy, bầy ngón, bầy chữ, bầy râu ngô, bầy thây ma, bầy bơ vơ…_

*   _Mẹ già nằm giữa cội cây/ Mắt chiều đã rủ xuống **bầy nhân gian**_
*   _Mẹ nằm/ mặc cả thiên thu/ Tôi cùng **rơm rạ hoang vu một bầy**_
*   _Tôi chăn **bầy tối mịt mù/** trên đồng nhũ cỏ/ gieo từ ngực đêm_
*   _Mẹ ơi/ lưng cháo thì gầy/ **Hạt muối** mằn mặn**/ một bầy** bên nhau_
*   _Đòng đòng ngậm sữa vú làng/ Anh đi **bầy thóc** nằm than đầy đồng_
*   _Một **đàn** con chữ khóc hờn/ một **bầy chấm phẩy**/ xác chờm dòng hoang_
*   _Hoa sữa/ run rẩy bàn tay/ Thịt da tháng chín/ ru **bầy ngón** trôi_
*   _Bến Mom/ giờ vẫn guộc gầy/ **Râu ngô thoi thóp một bầy phơi sương**_
*   _Thấy lâu đài cát nguy nga/ Thấy thiên đường những **thây ma gọi bầy**_
*   _Màu da phơi tuổi trinh ngần/ Trên xanh xao/ cả **bầy gân** guộc gầy_

**_Bầy gân_** là một hình ảnh ấn tượng, đó là một tập hợp những sợi gân trên mu bàn tay người phụ nữ guộc gầy, xanh xao. Thiết nghĩ không cần phải nhiều lời miêu tả sự xót thương, chỉ cần quan tâm đến chi tiết đó thôi thì tự nó đã đủ nói lên rất nhiều điều rồi.

Ngoài từ _bầy_, Nguyễn Phúc Thành còn thích dùng từ _lũ_. Từ điển giải thích từ **lũ** như sau: (1) Tập hợp người hoặc động vật cùng loài lâm thời tụ họp lại tương đối đông, không thành tổ chức. _Lũ trẻ. Cả lũ kéo nhau đi chơi. Lũ chuột_. (2) Tập hợp đông người có đặc điểm chung nào đó, như cùng một hoạt động xấu xa, hay cùng lứa tuổi, v.v. (thường hàm ý coi thường hoặc thân mật_. Lũ giặc. Lũ chúng tôi_ (kng.). _Lũ làng_ (ph.) \[4, tr. 589\]

Từ nghĩa từ điển đó, Nguyễn Phúc Thành đã mở rộng trường liên tưởng của mình để sáng tạo ra những kết hợp nhân hóa mới như:

*   _Sông Thương nuôi **lũ nắng tàn**/ Bờ đê thả gió đi hoang mắt người_
*   _Đêm thưa để **lũ tóc gầy**/ Gọi nhau dậy những sớm ngày dương gian_

Qua những dẫn chứng thơ của Nguyễn Phúc Thành, chúng ta có thể thấy _bầy, lũ_ không phải chỉ là những tập hợp của người hoặc động vật cùng loài mà còn là _tất cả những gì cùng loài, cùng loại._ Vì thế, tôi nghĩ đối với trường hợp từ _bầy, lũ,_ thì từ điển thơ có lẽ phải giải thích lại để có thể tập hợp đầy đủ hơn các nét nghĩa.

Bên cạnh đó, cũng bằng cách mở rộng trường liên tưởng, Nguyễn Phúc Thành còn có rất nhiều những kết hợp lạ hóa khác. Chẳng hạn, từ _bầu trời,_ anh sáng tạo ra **_bầu thiên thu, bầu trăng_**; từ _bầu ngực,_ _bầu sữa_ anh liên tưởng tới **_bầu gái quê_**, từ _quả tim_ anh nghĩ tới **_bầu tim_**, từ hình dạng _quả bầu_ anh hình dung ra cụm từ **_bầu ngô_**, ngoài cụm từ _vú mẹ_, tác giả của _Giấc mơ sông Thương_ còn có _**vú đêm,**_ **_vú làng_**_._ (Vi Thùy Linh cũng có _vú đêm_: Miệng núi miệng núi cắn _vú đêm_ nhẫn nại_”_; Hoàng Cầm có _vú lửa, vú xuân_**:** Hội Gióng dong chiêng/ Bé em về nằm khoanh lòng mẹ/ Nghe nghìn muôn năm sau/ xoa nắn đôi bầu _vú lửa_; _Vú xuân_ đường phèn căng bưởi Nga Mi). Vì thế, **vú giời**, **vú làng** là bản quyền của Nguyễn Phúc Thành.

*   _Mẹ ngồi vắt sữa xuống chiều/ **Vú đêm**./ Con ngậm./ Cánh diều./ Lời ru_
*   _Đòng đòng ngậm sữa **vú làng**_
*   **_Bầu tim_** _mẹ rách chín bề/ Sông Thương làm mộ tóc thề chị tôi_
*   _Em tôi thơm **bầu gái quê**/ Bờ xôi ruộng mật bề bề trắng trinh_

Mở rộng trường liên tưởng chồng lấn, đa chiều kích là kiểu tư duy mang thương hiệu Nguyễn Phúc Thành.

Một điều đáng ghi nhận nữa là vốn từ đồng nghĩa trong thơ anh cũng khá phong phú. Chẳng hạn, để chỉ tuổi thiếu nữ mới lớn, thơ ngây, trong trắng, Nguyễn Phúc Thành dùng nhiều từ thay thế: _tuổi chưa biết hờn, ngày em chưa rằm, tuổi chớm thành đôi, tuổi thề, xuân thì…_

**Chuyển (từ) loại, tách ghép từ, đảo trật từ, tỉnh lược từ ngữ**

Đây là những thủ pháp hiếm, các nhà thơ thường ít sử dụng hơn các thủ pháp khác nhưng NPT đều thử nghiệm.

**_Chuyển (từ) loại của từ_**, cũng tức là tạo ra nghĩa mới cho từ.

_Em tôi ngày ấy chưa **rằm**/ Mà như vành vạnh trong thăm thẳm mùa_

Như vậy, từ **_rằm_** là danh từ đã được chuyển sang số từ 15.

_Nhìn nhau./ Sao rụng nửa trời/ Đâu đâu cũng chạm **một ngời ngợi** em_

Số từ chỉ có thể kết hợp với danh từ. Trong câu thơ trên, kết hợp _một ngời ngợi_ đã biến tính từ _ngời ngợi_ thành danh từ (chưa kể đến việc sử dụng cả thủ pháp đảo từ ngữ)

**_Tỉnh lược từ_** làm câu thơ có khả năng biến ảo, vì người đọc có thể điền vào chỗ trống những từ do mình sáng tạo và đó chính là một trong những cách tạo sinh những nét nghĩa thơ. Chúng ta chắc còn nhớ câu thơ của Đồng Đức Bốn: _Ra giêng anh lại đi tìm/ Những câu quan họ của Lim ngày nào_ (_của Lim_ chứ không phải _hội Lim. Lim_ đã biến thành tên của một em Lim đáng yêu nào đấy và giọng của cả câu thơ bỗng trở nên rất tự nhiên)

*   _Trẫm mình trong đám cỏ thưa/ Thấy thân đã khát/ dù vừa là **nhau**_

Cụm từ “dù vừa là nhau” có thể hiểu là _dù vừa ở cùng nhau, dù vừa ở bên nhau; dù vừa là của nhau, dù vừa là yêu nhau._

*   _Tháng sáu/ bờ Thương **ngọc ngà**_

Người đọc có thể hiểu: _bờ Thương = bờ (sông) Thương = bờ (Yêu) Thương_ và trong kết hợp với _thương ngọc ngà_ phải chăng là _thương vẻ đẹp ngọc ngà, thương em._ (Lưu ý thêm: chữ thứ 4 trong lục bát truyền thống phải là thanh trắc nhưng ở đây lại là thanh bằng, chữ _thương_ vì thế mà trở thành điểm nhấn).

Có thể phép tỉnh lược ở các câu thơ trên chỉ đơn thuần giúp các phát ngôn đảm bảo về mặt số lượng từ ngữ cũng như giữ đúng nhịp điệu, tiết tấu cần có nhưng rõ ràng là nó vẫn là cách tạo sinh ngữ nghĩa..

**_Đảo trật tự từ_** chính là biến một cấu trúc ngôn ngữ thông thường thành cấu trúc nghệ thuật.

Trịnh Công Sơn cũng có những kết hợp đảo từ ngữ như: **_Sen hồng một nụ_** (Một nụ sen hồng) **_Quỳnh hương một đóa_** (Một đóa quỳnh hương), **_Cọng buồn cỏ khô_** (Cọng cỏ khô buồn)

Nguyễn Phúc Thành cũng có rất nhiều cấu trúc thông thường đã được đảo trật tự như:

*   _Bàn tay đầy đặn bãi bồi/ Năm ngón cào khuyết **vầng tồi tội trăng**_ (vầng trăng tồi tội)
*   _Sông Thương con nước dập dồn/ Đò ai khua vỡ cả **bồn chồn đêm**_ (đêm bồn chồn)
*   _Cúc mười/ mở vạt yếm sồi/ **Dải chầm chậm cởi**/ Em vồi vội hương_ (cởi dải (yếm) chầm chậm)
*   _Để **ngăn ngắt giá mấy vần thơ câm**_ (mấy vần thơ câm giá (lạnh) ngăn ngắt)_…_

Ngoài đảo từ ngữ thì **tách ghép từ ngữ** cũng là một kiểu cấu trúc nghệ thuật.

_Đàn trần chạm nốt tình sâu/ Thấy **bùa** em **ngải** lên màu của da_

Từ _bùa ngải_ được tách thành 2 từ đơn đã khiến câu thơ này chẳng thể nào phân tích được rành mạch cấu trúc ngữ pháp của nó. Chỉ biết rằng chính sự mơ hồ trong “ngữ pháp tiếng lòng” ấy của nhà thơ đã gợi nhiều liên tưởng quyến dụ người đọc như một thứ bùa ngải tàng trữ một sức mạnh thần diệu. Như đã biết, _bùa ngải_ trong “Biểu tượng văn hóa thế giới” là “_có năng lực truyền cho con người sức khỏe, trí khôn, sự tươi vui trong cuộc sống, những lạc thú của thân xác”_. (Nhân đây, cũng cần nói thêm rằng Nguyễn Phúc Thành luôn có ý thức mong muốn thơ mình trở thành một thứ bùa ngải mê hoặc người đọc: _Tôi về **gieo ngải vào thơ** /Để con chữ dại/ khóc/ bờ bụi đêm_)

**Các biện pháp tu từ từ vựng**

Hầu như nhà thơ nào cũng sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Tuy nhiên, mỗi nhà thơ lại có những cách thể hiện độc đáo để làm nên phong cách riêng.

Nguyễn Phúc Thành có những nhân hóa khác lạ. Anh hầu như không nhân hóa động vật mà thường nhân hóa thiên nhiên hoặc những từ trừu tượng: _Gió ngàn gào khóc đồng bằng; Một đàn con chữ khóc hờn/ Một bầy chấm phẩy/ xác chờm dòng hoang; Trăng liềm ngàn độ vắt cong mắt chờ; Khóc ai đục cả nửa mình sông ơi; Sông ru em ngủ giữa thăm thẳm mùa; Sông nằm mặc cả trời cao; da thơ, thịt thơ…_

Phép so sánh tu từ tuy không được Nguyễn Phúc Thành sử dụng nhiều nhưng lại khá lạ. Vế B trong cấu trúc so sánh của anh không phải là những sự vật, hình ảnh khuôn sáo, cũ mòn mà thường rất trừu tượng, không cụ thể, ít người phát hiện ra. Tuy nhiên, người đọc vẫn cảm thấy được nét nghĩa gợi ra sự giống nhau giữa 2 đối tượng ấy, dù đôi khi mơ hồ.

*   _Em tôi ngày ấy chưa rằm/ Mà **như** vành vạnh trong thăm thẳm mùa_
*   _Em về/ **như** bóng trăng rằm/ trong phồn thực của thinh câm cát cồn_
*   _Sông Thương **như** chiếc cũi đêm/ Giam đầy/ mắt mẹ/ màu đen/ đôi dòng_
*   _Dòng Thương **như** dải thiên cầm (đàn trời)/ em thì lặng gió/ tôi lầm lụi mưa_
*   _Tôi **như/** thú đói vào cơn/ Say bầu trăng ngủ/ dập dờn trên tay_
*   _Đêm chum chúm/ ngực mười ba/ Tôi **như** mười tám/ tuổi ngà ngà điên_
*   _Tôi **như**/ nắng chớm đầu thềm/ Phơi môi/quan họ/ hong trên/ cơi trầu_
*   _Mưa **như** kinh kệ gào gầm/ Trời **như** khóc tự xa xăm khóc về_
*   _Cải trắng/ **như** cải chưa chồng/ Em trinh/**như** bến/ đò không bóng đò_

Chúng ta có lẽ đã quen với từ ngữ: **_tấm lụa, cây lụa_** (Thân em như _tấm lụa đào_ - Ca dao; Lòng trẻ còn như _cây lụa trắng_/ Mẹ già chưa bán chợ làng xa - Nguyễn Bính) nhưng khi Nguyễn Phúc Thành so sánh **_em_** với **_đọt lụa_** mà lại là **_đọt lụa trinh ngần_** thì quả là đặc biệt:

*   _Em **như** đọt lụa trinh ngần_/ Một trời da thịt vũ vần bến Thương

_Đọt_ là ngọn thân hay cành cây còn non nên đã chỉ dẫn liên tưởng tới từ _trinh ngần_ là rất hợp lý, gợi cảm (_trinh tiết_ và _trắng/ trong ngần_), nhưng câu 8 bổ sung nghĩa cho vế B mới thực sự gợi cảm: sự dâng hiến hết mình “vũ vần” thật đáng trân trọng. Ai bảo câu thơ này không tràn đầy nhục tính?

Câu thơ sau đây lại vừa so sánh, vừa nhân hóa:

*   Tay đêm chạm đáy lưng ong_/ Tôi **như** đò góa phải lòng bến Thương._

_Đò/ thuyền_ và _bến_ là mối quan hệ gắn bó, quen thuộc của “đôi ta” trong ca dao nhưng đã được Nguyễn Phúc Thành làm mới bằng nhân hóa _đò góa._ Hãy thử tưởng tượng sự dồn nén bao ngày của một người góa bụa sẽ bùng lên mãnh liệt biết chừng nào khi gặp ý trung nhân.

Baudelaire từng viết: “Có những mùi hương… dịu dàng **như** tiếng kèn và xanh thắm **như** nội cỏ”, vì thế, cũng chẳng có gì ngạc nhiên khi NPT viết:

*   Đâu rồi hỡi những cũ càng/ _Da em – trăng muộn/ Mắt – hàng cau non_

So sánh trong câu thơ trên bị tỉnh lược mất từ so sánh **như.** Người đọc dễ dàng liên tưởng được nét trắng sáng giữa _da em_ với _ánh trăng muộn_, nhưng giữa _mắt em_ với _hàng cau non_ có gì giống nhau? Mới đọc chúng ta sẽ cảm thấy đây là một so sánh vô lý vì giữa hai đối tượng này khó có mối liên hệ gần gũi nào. Tuy nhiên, nếu đọc kĩ ta sẽ nhận ra cái có lý, dù khá mơ hồ. Bởi trường liên tưởng của Nguyễn Phúc Thành rất rộng, nên bước đầu tiên anh liên tưởng tới _hàng cau non_ – một hình ảnh quen thuộc của làng quê (vậy chắc chắn mắt ở đây là _mắt của thôn nữ_); tiếp theo anh liên tưởng tới câu ca dao: _Con mắt em liếc như là dao cau_ (vậy chắc chắn đây là đôi mắt _sắc_); sau đó anh lại liên tưởng tới _hàng cau nắng mới lên_ trong khu vườn “_mướt quá xanh như ngọc”_ của Hàn Mặc Tử, (vậy chắc chắn đó là đôi mắt _ngọc_ trong biếc với hàng mi dày _rợp_ (_bóng_), dài _mướt_ bởi vì anh đã từng viết _Bàn mi em chải da trời_). Tổng hợp lại các liên tưởng trên, ta sẽ thấy **mắt – hàng cau non** là đôi mắt rất đẹp của một thiếu nữ nhà quê, rất lạ, rất ám ảnh bởi sự sắc biếc, trong sáng với hàng mi dày, dài rợp mướt mát.

Có thể nói liên tưởng tương cận chính là đặc điểm phong cách trong tư duy thơ của Nguyễn Phúc Thành khi kiến tạo từ ngữ. Paustovsky từng nói: _“Sự giàu có trong việc liên tưởng nói lên cái phong phú của thế giới bên trong nhà văn. Có cái phong phú đó thì ý nghĩa nào, đề tài nào cũng có thể lớn ngay lên với những nét sinh động…”_ \[8, 186\]. Nhận định đó phải chăng như một lời khen của đại văn hào Nga dành cho Nguyễn Phúc Thành vậy.

**Nhịp điệu, thanh điệu và các biện pháp tu từ ngữ âm**

Chọn một thể thơ truyền thống để viết hẳn một tập thơ trong tâm thế của con người thời đại 4.0 là một lựa chọn dũng cảm của Nguyễn Phúc Thành. Hiện nay có một số nhà thơ chủ trương không quan tâm tới vần thơ, coi lục bát là thứ thơ cũ rích nhưng tác giả _Giấc mơ sông Thương_ lại cho rằng lục bát là thể thơ có thể chuyển tải tốt nhất cái điệu hồn của người Việt và văn hóa Việt. Vấn đề không phải ở thể thơ cũ hay mới mà là vấn đề cần viết như thế nào cho phù hợp với thính giác của con người hiện đại.

Vì là thể thơ truyền thống nên Nguyễn Phúc Thành quan tâm đến vấn đề về nhịp điệu, thanh điệu bằng trắc, đến vần thơ và tính nhạc trong thơ.

**_5.1. Nhịp điệu và thanh điệu trong Giấc mơ sông Thương_**

Có thể nói về nhịp điệu, Nguyễn Phúc Thành vẫn ưa dùng nhịp chẵn, nhịp cơ bản truyền thống của ca dao, đồng dao, ít nhịp lẻ. (Trịnh Công Sơn chủ yếu cũng dùng nhịp chẵn, _Đồng dao cho người lớn_ của Nguyễn Trọng Tạo cũng tạo hiệu quả lớn khi dùng nhịp chẵn).

Nhưng khi thơ anh có sự bất thường về nhịp thì lúc đó câu thơ lại tạo nên một ấn tượng, tác động mạnh đến người đọc.

_Vành khăn tang/_

_chít trán trời/_

_Dòng Thương ngầu ngã/_

**_một/_**

**_đời đợi/_**

**_nhau…_**

Mỗi lần xuống dòng thơ là tạo một nhịp mới. Thực ra cụm từ _một đời đợi nhau_ bị tách ra thành ba nhịp tuy không đúng về mặt ngữ nghĩa (nhịp đúng là _một đời/ đợi nhau_) nhưng việc tạo nhịp bất thường ở đây lại có giá trị về mặt tu từ. Chữ _một_ được tách thành một nhịp lẻ, nhấn mạnh sự lẻ loi đơn chiếc, chữ _đời đợi_ có giá trị về mặt ngữ âm, nó trở thành một từ láy gần âm với từ _vời vợi_; (xa) _vời vợi_ gợi ra sự chia ly đôi ngả đôi đường, âm dương cách biệt. Hơn nữa, khi dừng nhịp ở từ **_đợi_**, sự đợi chờ được nhấn mạnh hơn, đồng thời khi đọc _một/ đời đợi/ nhau_ … rõ ràng là ta sẽ bị mất hơi nhiều hơn so với khi đọc: _một đời/ đợi nhau_ _…_ nên cảm giác mệt mỏi bởi sự đợi chờ dài dặc cả một đời người sẽ hiện rõ hơn.

Ngoài bất thường về nhịp thì sự bất thường về vị trí thanh điệu sẽ là một điểm nhấn nếu không về nội dung thì cũng về âm điệu. Chẳng hạn câu thơ sau của Đồng Đức Bốn: _Đang trưa ăn mày vào chùa/ Sư ra cho một lá bùa rồi đi..._ Chữ thứ 4 của câu lục lại là từ _mày_ mang thanh bằng, cả câu lục toàn thanh bằng, đặc biệt 3 âm tiết đầu mang thanh ngang – cao, ba âm tiết sau mang 3 thanh huyền – thấp, tạo ra sự chùng xuống, giảm dần, yếu đi, nhẹ buồn như một giọng nói yếu ớt, khiến ta tưởng tượng ra sự mất dần sức lực trong từng bước đi khi đói khát của ăn mày, mặc dù tác giả không nói gì đến đói khát cả.

Câu thơ sử dụng phép so sánh sau đây của Nguyễn Phúc Thành ngoài sự bất thường về nhịp còn có sự bất thường về thanh điệu, cộng thêm sự tổng hòa của nhiều biện pháp tu từ khác nữa nên cũng tạo một ấn tượng đối với người đọc:

_Em đi, ngày ấy bỗng dường/ **Như** hóa thạch cả dòng Thương nua già_

Tuy vẫn nằm trong khuôn khổ của 14 âm tiết lục bát truyền thống nhưng đã được cách tân bởi đã **phá vỡ nguyên tắc bằng trắc** “nhị, tứ, lục phân minh” (chữ thứ 2 phải là thanh bằng nhưng ở câu bát lại là thanh trắc “hóa”), ba thanh trắc liền nhau toàn là thanh sắc (_hóa thạch cả_) vút cao ám ảnh. Thêm vào đó là sự **vắt dòng**_(dường - như),_ **đảo từ** _(già nua = nua già),_ **đảo vị trí trạng ngữ** _(Ngày ấy, em đi = Em đi, ngày ấy)_, cộng với **nhịp 2/2/2/2 truyền thống bị thay đổi** ở trong câu _Như hóa thạch cả dòng Thương nua già_ (vì chắc chắn không thể đọc là _như hóa/ thạch cả_). Em đi rồi, dòng sông Thương cũng buồn, thiên nhiên cũng buồn. Nếu Phan Huyền Thư có _nỗi buồn đông cứng_ thì Nguyễn Phúc Thành lại có _nỗi buồn hóa thạch._

**_5.2. Các biện pháp tu từ ngữ âm như điệp phụ âm đầu và điệp vần trong Giấc mơ sông Thương_**

Chúng ta chắc không quên những câu thơ tạo ấn tượng thính giác, giàu tính nhạc như:

*   _Chị ấy năm nay còn gánh thóc/ Dọc bờ sông trắng nắng chang chang_ (Hàn Mặc Tử)
*   _Em về trắng đầy cong khung nhớ/ Mưa mấy mùa mây mấy độ thu_ (Lê Đạt)
*   _Nắng tần ngần trên nón trắng chênh chao/ Nghe gót bước biết lòng biêng biếc lắm_ (Thi Hoàng)
*   _Mần răng ra rứa, ví dù/ Mần ri thế nọ tít mù thế kia_ (Bùi Giáng)
*   _Lắm loài súng sính sinh sôi/ Nòi tình thui thủi một đời/ MỘT KHÔNG._ (Hoàng Cầm)
*   _Lá bàng đang đỏ ngọn cây/ Sếu giang mang lạnh đang bay ngang trời_ (Tố Hữu)
*   _Say sưa sen đường thơ/ Thơ trắng gặm trăng ngực trắng._
*   _Động đường đêm đong đưa/ Em đi về Anh phía ấm_ (Vi Thùy Linh)…
*   _Một con kim kỉm kìm kim/ Một con đom đóm đi tìm gì rơi_ (Nguyễn Thế Hoàng Linh)
*   _…._

Vì vậy, những câu thơ điệp phụ âm, điệp vần giàu tính nhạc trong _Giấc mơ sông Thương_ cũng thực sự ấn tượng:

Có nhiều câu điệp phụ âm đầu:

*   _Trong phồn thực_ **của** _thinh_ **câm cát cồn**
*   _Tình **lên lưng lửng** nốt_ **đàn**_/ Sông Thương ngậy sóng_ **địa đàng** _thịt da_
*   **_Chiều chần chật_** **cựa** _trong mầm_ **cỏ cây**
*   _Mầm đêm_ **ngau ngáu nghiến** _mình dưới sen_
*   _Một_ **đời đen đúa**_/ thấy **tồi tội** chân_

Nhưng câu thơ sau mới thật là ấn tượng:

_Mũi sào_ **đau đáy** _dòng Thương/_ **Đò** _em_ **đắm** _giữa_ **đóa** _tường vi_ **đen**

Năm âm đầu **đ** được lặp lại trong một cặp lục bát đã tạo được âm hưởng đặc biệt. Nó khiến chúng ta dễ dàng liên tưởng tới câu thơ cũng điệp nhiều âm đầu **đ:** Đại _quân_ **đồn đóng** _cõi_ **đông** của đại thi hào Nguyễn Du mà nhiều nhà nghiên cứu ngữ âm đã bàn đến giá trị biểu cảm của nó. Nó gợi nhớ tới câu thơ của Nguyễn Quang Thiều: _Chị lên **đò** bóng **đắm đáy** sông sâu_ có 3 âm đầu **đ** điệp lại và 3 thanh trắc vút cao giữa câu như một đỉnh hình sin đã ám ảnh thị giác và thính giác người đọc.

Một câu thơ hay thường được tổng hòa bởi nhiều yếu tố tu từ ngữ âm, từ vựng. Ngoài ấn tượng mạnh về hiện tượng điệp phụ âm đầu **đ,** câu thơ trên còn gây ấn tượng ở chỗ: nhịp chẵn quen thuộc của lục bát bị thay đổi khi từ **_đau_** và **_đắm_** với phụ âm **đ** mạnh mẽ bị tách ra thành một nhịp lẻ: _Mũi sào/_ **đau**_/ đáy dòng Thương_/ _Đò em/_ **đắm**_/ giữa đóa tường vi đen_ (đang nhịp chẵn mà chuyển qua nhịp lẻ chắc chắn là có “biến”, báo hiệu cái bất trắc, rủi ro, éo le, bất hạnh xảy ra). Hãy so sánh với nhịp điệu của câu thơ: _Nửa chừng xuân/ **thoắt**/ gãy cành thiên hương_ (Nguyễn Du). Tính từ _thoắt_ được tách ra thành nhịp lẻ, cộng hưởng với nó là âm thanh nhanh, mạnh của âm tắc khép **/t/** đã gợi cảm giác về một cành xanh bất ngờ bị bẻ gẫy, cảm giác về cái đẹp bỗng dưng bị tàn phá, ẩn chứa trong đó dường như có tiếng nấc nghẹn ngào thương cảm cho người kĩ nữ Đạm Tiên tài hoa mệnh bạc.

Câu thơ sau đây thì lại điệp vần _iêu_:

*   _Từ trong đáy của_ **phiêu diêu**_/ Tôi nghe trần thế nói_ **điều** **nhiễu** _nhương_

Hoặc có những câu vừa điệp phụ âm đầu, vừa điệp vần, ví dụ:

*   _Cơn đau lên biếc trùng trùng/ Bốn bề dâu bể về chung một chiều_

Phụ âm đầu **ch/ tr** được điệp lại trong _chung, chiều/ trùng trùng_; phụ âm **b** được láy lại trong **biếc, bể, bốn bề;** vần **ung** được điệp trong _trùng trùng, chung_ và vần **ê** cũng được lặp lại trong **bề, bể, về**. (Vần _ê_ được lặp lại tạo ra một không gian mở trải rộng phù hợp với nghĩa của _bốn bề dâu bể_. Cảm giác đó được tạo ra bởi ê là nguyên âm hàng trước, có độ mở rộng tương đối của miệng)

*   _Lá vàng ngủ giấc **cội cành**/ Trăm năm một **kiếp cầm canh** xuống đời_

Câu thơ này có 5 phụ âm “cờ” (**/k**/) được lặp lại trong _cội, cành, kiếp, cầm, canh_. \[Lưu ý: c, k, q là 3 con chữ nhưng thực ra đều là một âm /k/ (đọc là cờ)\]; ngoài điệp phụ âm, còn có điệp vần, vần **_ăm_** được lặp lại trong _trăm năm,_ vần **_anh_** được lặp lại trong _cành, canh_)

Hoặc: - _Triền đê khóc đóa mộc miên mù lòa_

Điệp phụ âm **m** trong _mộc, miên, mù_; điệp âm đầu **đ** trong _đê_, _đóa_; điệp vần **iên** trong _triền, miên_, điệp vần **oa**trong _đóa, lòa._

Qua khảo sát, có thể thấy, Nguyễn Phúc Thành rất thích dùng phụ âm môi **m** mềm mại gợi nhiều từ liên quan tới **thiên tính nữ** như: “môi màu mỡ”, “mòng mọng”, “mộc miên”, “mũm mĩm”, “mượt mà”, “mĩ miều”, (chân dài) “miên man”, “mắt mẹ”…. \[các từ chỉ _mẹ_ của Việt Nam và nhiều nước trên thế giới thường bắt đầu bằng âm **m**: _Mẹ, Má, Mạ, Mợ, Mụ_ (bà mụ) (Việt Nam), _Mather, Mum_ (Anh), _Mère_ (Pháp), _Mutter_ (Đức), _Мать_ (Nga) …\]

*   _Để **môi màu mỡ** hôn **ngà ngà** trăng_
*   _Thấy **m**ùa **m**_òng **_m_**ọng_. Thấy t**ần** ng**ần** em_
*   **_H_**_oàng **h**ôn_ **mơm mởm mép** _chiều_
*   _Gieo_ **mầm** _nước_ **mắt** _trổ vào_ **mênh mông**
*   **Kết luận**

Nguyễn Phúc Thành thực sự đã tham gia vào một cuộc chơi, một việc làm mới ngôn từ thơ ca. _“Chơi với từ không phải là một lạc thú vớ vẩn, mà là cả một hội hè của trí tuệ, bởi vì có ngôn ngữ mới, ta có những tri thức mới”_ \[1, tr. 50\]

Lao động thơ là lao động chữ nghĩa; sáng tạo ra được những cụm từ mới sẽ làm nhà thơ vô cùng sung sướng, hạnh phúc. Cái giàu có của thi sĩ nhiều khi không phải được tính bằng số tiền nằm trong tài khoản, mà đó là sự giàu có của những trải nghiệm nhân sinh, là khi tâm hồn, tri thức được bồi đắp bởi ánh sáng của văn hóa, trí tuệ và trí huệ.

Có thể nói rằng: bằng ý thức cách tân của một người được học văn chương một cách bài bản, đẳng cấp; bằng kiểu tư duy mở rộng trường liên tưởng tương cận, chồng lấn, đa chiều; đồng thời bằng năng khiếu mẫn cảm về ngôn ngữ thiên bẩm của một thi sĩ, qua tác phẩm Giấc mơ sông Thương, Nguyễn Phúc Thành Nguyễn Phúc Thành đã đóng góp vào _“Từ điển kết hợp lạ trong thi ca Việt”_ nhiều bản quyển thương hiệu từ ngữ độc đáo, có giá trị tạo sinh ngữ nghĩa.

Vì dung lượng của một bài đăng không cho phép viết dài, mà cái hay, cái lạ trong tác phẩm thì còn nhiều nên chúng tôi sẽ tiếp tục bàn về thơ Nguyễn Phúc Thành trong một bài viết khác.
