---
title: "Bộ Chính trị ban hành Quy định mới về kỷ luật tổ chức Đảng, Đảng viên vi phạm"
avatar: https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/09/06/44b5860e-cb93-46d2-892d-5d860c35fcf0.jpg
slug: bo-chinh-tri-ban-hanh-quy-dinh-moi-ve-ky-luat-to-chuc-dang-dang-vien-vi-pham
url: https://phapluatplus.baophapluat.vn/bo-chinh-tri-ban-hanh-quy-dinh-moi-ve-ky-luat-to-chuc-dang-dang-vien-vi-pham.html
published_at: 06:08 06/09/2026
updated_at: 06:08 06/09/2026
authors: Đại Văn
source:
  name: Báo Pháp Luật Việt Nam
  domain: baophapluat.vn
  type: press
category: Hành chính & tố tụng hành chính
topics:
  - quy định
  - đảng viên
  - Trần Cẩm Tú
  - ban bí thư
  - bộ Chính trị
  - tổ chức đảng
  - kỷ luật
language: vi
content_type: article
---

# Bộ Chính trị ban hành Quy định mới về kỷ luật tổ chức Đảng, Đảng viên vi phạm

## Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Quy định số 212 về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm.

Quy định số 212 nêu rõ tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.

**Căn cứ nhiều yếu tố để xem xét kỷ luật**

Khi xem xét kỷ luật, Bộ Chính trị yêu cầu căn cứ vào nội dung, động cơ, tính chất, mức độ, hậu quả, nguyên nhân vi phạm, hoàn cảnh cụ thể, các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ.

Ý thức, thái độ tự phê bình, tiếp thu phê bình và kết quả sửa chữa, khắc phục khuyết điểm, vi phạm, hậu quả đã gây ra... cũng là những yếu tố được xem xét khi kỷ luật.

Việc xử lý kỷ luật phải gắn với tăng cường giáo dục, quản lý, làm cho tổ chức đảng, đảng viên nhận thức được khuyết điểm, vi phạm để khắc phục, sửa chữa và làm tốt hơn.

![](https://cdn.baophapluat.vn/uploaded/images/2026/09/06/44b5860e-cb93-46d2-892d-5d860c35fcf0.jpg)

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú. Ảnh: TTXVN

Bộ Chính trị quán triệt kỷ luật tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan, nhất là trách nhiệm người đứng đầu.

Theo quy định của Bộ Chính trị, thời hiệu kỷ luật đối với tổ chức đảng vi phạm là 5 năm (60 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo.

Bộ Chính trị quy định không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với những vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật giải tán; vi phạm về chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đối với đảng viên, thời hiệu kỷ luật là 5 năm (60 tháng) với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khiển trách; 10 năm (120 tháng) đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức cảnh cáo hoặc cách chức.

Bộ Chính trị nêu rõ không áp dụng thời hiệu kỷ luật đối với vi phạm đến mức phải áp dụng hình thức khai trừ; vi phạm chính trị nội bộ; vi phạm về quốc phòng, an ninh, đối ngoại xâm hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc; việc sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận không hợp pháp.

Về hình thức kỷ luật, Quy định của Bộ Chính trị nêu rõ với tổ chức đảng, các hình thức kỷ luật gồm: khiển trách, cảnh cáo, giải tán. Đối với đảng viên chính thức gồm: khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ. Đối với đảng viên dự bị gồm: khiển trách, cảnh cáo.

Quy định số 212 xác định cụ thể các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng; các vi phạm và hình thức kỷ luật đối với đảng viên, trong đó có các lĩnh vực về công tác tổ chức, cán bộ; về bầu cử; quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước; phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; tài nguyên, đất đai, nhà ở…

**Quy định hành vi vi phạm về tuyên truyền, phát ngôn của đảng viên**

Quy định số 212 có một chương (chương II) quy định về kỷ luật tổ chức đảng vi phạm, trong đó, nêu rõ các vi phạm về chủ trương, quy định của Đảng; vi phạm việc lãnh đạo, chỉ đạo, ban hành, tổ chức thực hiện chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; vi phạm công tác tổ chức, cán bộ và công tác đảng viên; vi phạm quy định về bầu cử.

Cùng với đó là các quy định về vi phạm quy định quản lý, sử dụng ngân sách, tài chính, tài sản của Đảng, Nhà nước; vi phạm trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tiếp thu ý kiến góp ý của Nhân dân, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và các tổ chức chính trị - xã hội.

Vi phạm quy định kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; vi phạm quy định tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; vi phạm quy định phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực…

Tùy theo mức độ vi phạm, theo quy định, sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật tương ứng.

Chương III quy định về kỷ luật đảng viên vi phạm, với các quy định cụ thể về: Vi phạm quan điểm chính trị và chính trị nội bộ; vi phạm nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; vi phạm quy định bầu cử; vi phạm quy định tuyên truyền, phát ngôn; vi phạm quy định công tác tổ chức, cán bộ; vi phạm quy định về chống chạy chức, chạy quyền; vi phạm khi thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ… ; vi phạm quy định trong lĩnh vực dân số; vi phạm quy định hôn nhân và gia đình…

Tuỳ theo mức độ vi phạm, theo quy định, sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật tương ứng. Đáng chú ý, trong quy định về việc vi phạm quy định về tuyên truyền, phát ngôn, nêu rõ, đảng viên vi phạm một trong các trường hợp sau, gây hậu quả ít nghiêm trọng thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách:

Tuyên truyền, sao chép, phát tán, cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu, hiện vật có nội dung xấu. Tự ý phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu, cho báo chí và các cơ quan, tổ chức truyền thông khác, vi phạm Luật Báo chí, Luật Xuất bản và những quy định khác của Đảng, Nhà nước về phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu, tuyên truyền, xuất bản.

Phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu, dữ liệu, văn bản, đề án, dự án đang trong quá trình soạn thảo mà theo quy định chưa được cơ quan có thẩm quyền cho phép phổ biến.

Viết bài, duyệt đăng bài, sao chép, phát tán bài viết, thông tin không chính xác. Không đăng tải ý kiến phản hồi, cải chính theo quy định của pháp luật.

Lợi dụng quyền bảo lưu ý kiến, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, phản biện xã hội để viết bài, trả lời phỏng vấn hoặc sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, nền tảng số, không gian mạng, mạng xã hội và các hội, nhóm, câu lạc bộ, diễn đàn để truyền bá quan điểm trái chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Sử dụng hạ tầng Internet, mạng xã hội, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo để tạo lập, phát tán thông tin sai sự thật.

Quy định cũng nêu cụ thể các mức độ vi phạm trong tuyên truyền, phát ngôn của đảng viên phải xem xét kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo, cách chức, hoặc khai trừ.
